thu vien kon tum
sự kiện

TỔ ĐÌNH BÁC ÁI

- Người đăng bài viết: Thư Viện tỉnh
TỔ ĐÌNH BÁC ÁI

TỔ ĐÌNH BÁC ÁI

Tọa lạc ngay trung tâm thành phố Kon Tum, Chùa Tổ Đình Bác Ái là một công trình kiến trúc Phật giáo có mặt sớm nhất ở Kon Tum cũng như Tây Nguyên. Nơi đây, còn được lưu giữ nguyên sơ nét cổ kính của công trình kiến trúc theo phong cách kiến trúc Huế vào đầu thế kỷ XX.
Trước năm 1930, Kon Tum là vùng đất còn hoang sơ, những ngôi làng người Kinh đầu tiên sống chủ yếu dọc ven con sông Đăk Bla, bên cạnh những ngôi làng Ba Na. Nằm về phía Bắc và Tây Bắc có 2 làng người Lương mà gọi là làng Trung Lương và Lương Khế. Qua bao năm sinh sống ở đây, những người Lương này chỉ thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh, là thần hộ quốc tý dân, bảo trợ dân làng trong quá trình khai khẩn vùng đất mới.
Năm 1932, triều đình nhà Nguyễn đưa Võ Chuẩn lên Kon Tum làm quản đạo. Là người có tấm lòng hướng Phật, ông đã ủng hộ cho nhân dân hai làng Lương thành lập một ngôi chùa trên khu đất của Âm Linh Miếu(1). Đây là vùng đất có địa thế cao, xung quanh bao bọc bởi rừng già, phía nam có suối, phía bắc có núi, địa thế rất uy nghi và linh ứng.
Để xây dựng chùa, Võ Chuẩn đứng ra thiết kế và đốc công xây dựng chùa cùng với nhân dân làng Lương. Qua một thời gian xây dựng, ngày 7/9/1933, Chùa tổ chức làm lễ lạc thành lấy tên là chùa Bác Ái. Thầy Từ Vân, được cử trụ trì chùa. Ngày 3 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 7, vua Bảo Đại ban biển ngạch "Sắc Tứ Bái Ái Tự", đến năm 1955 đổi thành chùa Tổ Đình Bác Ái.
Sau khi ngôi chùa được khánh thành, triều đình nhà Nguyễn ban cho một số hiện vật để thờ phụng như Đại Hồng Chung, 1 pho tượng quan âm bằng đồng, một bức Ngự dung có châu phê, Bửu ấn và 1 bức Bửu tán bằng gấm, 2 cặp Phan bằng gấm. Ngày 27/11/1933, pho tượng Phật quan âm của Đức Khôn Nguyên Xương Minh Thái Hoàng - Thái Hậu đưa đến chùa đầu tiên, sau đó đến Đại Hồng Chung (2).
Trải qua nhiều lần trùng tu, ngôi chùa vẫn giữ bảo tồn được kiến trúc cổ xưa. Nhìn tổng thể kiến trúc, chùa xây dựng theo hư­ớng Bắc Nam, kiểu hình chữ Môn (          ) bao gồm Chánh điện ở trung tâm và 2 bên tả hữu là Đông Lang (nhà Đông) và Tây Lang (nhà Tây).
Cổng tam quan quay về hướng Nam. Trước đây, cổng tam quan là một công trình kiến trúc khá độc đáo. Cổng có hai tầng mái, trên mỗi tầng mái có song long chầu nhật, rồng chầu, uốn lượn trên mỗi đầu đao. Ở giữa tầng mái trên có treo Đại hồng chung. Hai bên cổng chính đặt tượng Tiêu diệnHộ pháp trấn giữ lối vào, có chiều cao 1.5m, trông rất đẹp. Ngày nay, cổng tam quan mà ta nhìn thấy là cổng đã được làm lại vào năm 1970, sau khi cổng cũ bị đổ.
 Chánh điện được xây dựng theo kiểu 3 gian 2 mái, cổ lầu bao gồm gian Tiền đường - Thiêu hương - Thượng điện; tầng trên có lầu chuônggác trống. Trên đỉnh nóc mái đắp nổi hình" Lưỡng long chầu nhật", mái lợp ngói vảy, tư­ờng gạch vôi vữa. Toàn bộ vì kèo, cột, xiên, trính được làm bằng gỗ; trong đó chủ yếu là gỗ cà chít. 
Trung tâm Chánh điện là hệ thống tượng thờ được bố trí theo thứ bật từ cao đến thấp, đầu tiên là bộ tượng Tam Thế Phật; Di Đà Tam Tôn; Hoa Nghiêm Tam Thánh... Bên hữu, cấu trúc tượng thờ được chia làm hai phần, phần hậu cung là Tam Toà Thánh Mẫu, một tượng mẫu ở trên cao, chính giữa là Mẫu đệ nhất Thượng Thiên (Mẫu Nghi Thiên Hạ), mặt áo đỏ; một tượng ở bên phải là Mẫu đệ Nhị Thượng Ngàn, mặt áo xanh (cai quản rừng núi); tương ứng về bên trái là Mẫu đệ Tam Thoải phủ (cai quản sông nước). Mặt tiền của hậu cung thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, hai bên là quan Nam Tào và Bắc Đẩu và phía trước là Bà Chúa Tiên và Mẫu Thiên Y A Na. Bên tả thờ tượng Quan Thánh Đế Quân, Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Hai gian dưới của lầu chuông và gác Trống là nơi thờ Tổ và Vong linh. Ngoài hệ thống tượng thờ, trên những hàng cột còn treo những bức hoành phi, câu đối được vua quan và nhân dân trong tỉnh phụng cúng. Đặc biệt là bức hoành "Sắc tứ Bác Ái Tự" được treo long trọng ở gian giữa của chánh điện, trên có khắc: Bảo đại thất niên thập nguyệt, sơ tam nhật. Tân An huyện, Tri huyện Lê Hoàng Hà(...) thừa phái Nguyễn Đại Đồng, Phạm Bá Công bái cúng.
Tạm dịch: Tri huyện huyện Tân An cùng thừa phái Nguyễn Đại Đồng và Phạm Bá Công cúng tiến. Làm vào ngày 3/10 năm bảo đại thứ 7.
Bên cạnh những công trình kiến trúc, không gian sân chùa còn có các bia, mộ tháp, miếu thờ Đoàn quán và nhà trù. Nhưng ở đây, còn lưu giữ một bia đá trên có khắc tên ông Quenin, người có công phát quang đất chùa vào năm 1936.
Hàng năm, vào dịp lễ Phật đản (rằm tháng tư), lễ Vu Lan (rằm tháng bảy âm lịch) các Phật tử, bổn đạo gần xa đến dự lễ Phật rất đông. Vào những ngày này, họ đọc kinh, niệm Phật cầu nguyện cho quốc thái dân an. Ngoài ra, phần hội cũng được tổ chức ngay ở sân chùa như các trò chơi dân gian, đêm về giao lưu văn hóa văn, văn nghệ, các chư tăng còn kể lại những câu chuyện về lịch sử và sự tích đức Phật Thích ca cũng như quá trình truyền đạo Phật đến với công chúng ....
Ngày nay, cứ mỗi khi Tết đến, Xuân về Chùa Tổ Đình Bác Ái không những chỉ có dân làng Lương đến dự lễ Phật mà còn nhân dân trong tỉnh cũng như du khách gần xa.
-----------------------------------------
Chú thích:
(1). Vị trí đất Chùa hiện nay.
(2). Nguyệt san Phật học - Viên âm, năm thứ nhất, số 4, 1934.
Tác giả bài viết: Sỹ Nguyên (Ghi)
Nguồn tin: Tạp chí Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Kon Tum số 69
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu Kon Tum

Thăm dò ý kiến

Bạn cần gì ở Thư viện?

Tài liệu hoàn toàn mới.

Tài liệu đa dạng, sử dụng miễn phí.

Sử dụng các dịch vụ và tiện ích miễn phí

Tất cả các ý kiến trên




Thống kê

  • Đang truy cập: 12
  • Khách viếng thăm: 9
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 1636
  • Tháng hiện tại: 2680
  • Tổng lượt truy cập: 919181

Kết nối Kon Tum

Trang nhất   Giới thiệu   Tin Tức   Đăng nhập thành viên   Bạn đọc góp ý