thu vien kon tum
sự kiện

Căn cứ Bàn đạp Trung Tín

- Người đăng bài viết: Thư Viện tỉnh
Căn cứ Bàn đạp Trung Tín

Căn cứ Bàn đạp Trung Tín

Ấp Trung Tín được chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập vào năm 1958, mục đích biến nơi đây thành khu trù mật, tạo tuyến phòng ngự, bảo vệ tuyến bắc và tây bắc thị xã Kon Tum với khu hành chính quận lỵ Kon Tum nằm về phía Tây Nam, Chốt bảo an ở phía đông trên đường 14 và Trung đội nghĩa quân trấn giữ bên trong.
Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất năm 1960, Tỉnh Ủy Kon Tum chủ trương xây dựng cơ sở ở phía bắc thị xã Kon Tum lấy Trung Tín làm bàn đạp, Phương Quí làm hành lang để tiến tới xây dựng ở Trung Lương thành căn cứ Lõm nội thị.
 Qua phân tích, đánh giá tình hình, Ban cán sự H5 thấy rằng Trung Tín, Phương Quý, Trung Lương là 3 điểm liền nhau, đi lại gần nhất từ ngoài vào nội thị. Ở đây đồng bào có quan hệ chặt chẽ với nhau, phần lớn là theo phật giáo, có truyền thống cách mạng; là cửa ngõ phía Bắc vào thị xã rất thuận lợi cho ta. Địa bàn Trung Lương là nơi trung tâm của thị xã, gần chợ, bến xe, trường học, chùa và nơi tập trung nhiều tầng lớp nhân dân nhất.
          Với nhận định trên, năm 1961 Ban cán sự H5 thành lập thêm đội công tác bàn đạp gồm có 4 đồng chí, đồng chí Hồ làm đội trưởng dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Tập.
  Đến tháng 8/1962, tại vùng Kon Gu đội công tác gặp được hai anh Hồ Lanh và Hồ Tiềm. Anh Hồ Lanh làm ăn ở Trung Tín, anh Hồ Tiềm cư trú ở Trung Lương rất thuận lợi cho việc xây dựng bàn đạp và mở cơ sở vào nội thị trong tương lai. Qua một thời gian thử thách 2 anh đã trở thành cơ sở cốt cán đầu tiên của H5 tại địa bàn Trung Tín.
Từ hai cơ sở trên, một thời gian sau ta đã dần dần phát triển thêm cơ sở mới ở ấp Trung Tín như gia đình Bùi Thanh Châu, Phạm Bồng, Trần Kỹ, chị Sáu Hoa, bà Giáo...Trong hai năm 1963-1964, từ đầu ấp đến cuối ấp, ta đều có cơ sở và nắm được hầu hết các gia đình sinh sống ở đây.
Để đưa phong trào lên một bước mới, Ban cán sự quyết định xây dựng Trung Tín thành bàn đạp. Chi bộ bàn đạp được thành lập, đồng chí Nguyễn Thế Vũ làm Bí thư Chi bộ vừa phụ trách xây dựng bàn đạp, vừa phát triển cơ sở mới vào nội thị và xây dựng bộ máy ngụy quyền nơi đây thành hai mặt theo kiểu "Xanh vỏ đỏ lòng" và tiến tới thanh lọc địa bàn. 

Ảnh TL: Gia đình ông Nguyễn Đức Bá.

 
Sau một thời gian tìm hiểu, theo dõi, đến tháng 10 năm 1964 ta đã xây dựng được cơ sở cách mạng trong lòng địch mà đặt biệt là anh Nguyễn Đức Bá - Trung đội trưởng nghĩa quân. Từ đây, ta cũng đã phát triển được 5 cơ sở và 8 cảm tình khác trong trung đội này.
 Để thanh khiết một bước, ở bàn đạp chi bộ vạch kế hoạch loại trừ mật vụ, ác ôn. Trong trận đánh tháng 6/1964, cơ sở nội tuyến của ta đã bí mật diệt một tên. Ngày 24/12/1964, ta bố trí cho số cơ sở nghĩa quân đánh một số trận phục kích giả để có cơ sở hợp pháp diệt những tên chống đối cách mạng còn lại. 
Đến năm 1965, ta đã hoàn toàn làm chủ ấp Trung Tín về ban đêm. Từ bàn đạp Trung Tín, ta từng bước xây dựng cơ sở mới vào nội thị và Phường Quý. Đến giữa năm 1965, ta xây dựng và hình thành được lõm căn cứ ở Trung Lương như khu vực Bến xe, Chùa Trung Khánh, Quán Cao Nguyên, Trường Bồ đề....Từ đây, các đồng chí trong Ban cán sự H5 đã ra vào nội thị theo hành lang này một cách thuận lợi và an toàn. 
Sau đại hội Đảng bộ tỉnh lần II, đồng chí Tập về tỉnh, đồng chí Trần Thanh Dân làm Bí thư Ban cán sự H5. Tỉnh ủy bổ sung thêm nhiều cán bộ cho thị xã. Cơ quan, lực lượng vũ trang được hình thành như Đội Tự vệ mật, Đội Công tác Bàn đạp ra đời.
Tại Trung Tín, các đồng chíTrần Thanh Dân, Nguyễn Thế Vũ (Văn), Đỗ Thanh Truyền (Neo)...luôn bám sát cơ sở, tiến hành tổ chức các đội công tác và đội vũ trang xây dựng hệ thống hầm bí mật cả tuyến trong và tuyến ngoài. Hầm ở tuyến trong được đặt tại các gia đình cơ sở cốt cán để cho các đội công tác và Ban cán sự hoạt động như nhà Hồ Lanh, Phạm Bồng, Nguyễn Đức Bá, Phạm Thị Lưỡi, Đoàn Thị Mỹ.  Chùa Trung Tín là nơi cất giấu và trao đổi thông tin liên lạc giữa đội công tác với Ban Cán sự H5.
  Để mở nhanh cơ sở chính trị trong nội thị cũng như chuẩn bị cho Chiến dịch Mậu Thân (năm 1968), Tỉnh ủy tăng cường cán bộ cho H5 để đưa vào hoạt động bên trong nội thị. Đến cuối năm 1967, cơ sở của ta ở Trung Tín đã đưa được 6 cán bộ(1) của ta vào sống hợp pháp tại một số gia đình cơ sở như nhà ông Bùi Vật, Huỳnh Trọng Sửu, Kiều Thị Truy, quán Cao Nguyên, Chùa Trung Khánh... dưới dạng là những người làm thuê, chú tiểu hoặc bà con ở quê lên ...
Trong chiến dịch tổng tấn công, tổng khởi nghĩa, từ  cơ sở Bàn đạp Trung Tín đến lõm căn cứ Trung Lương đều phối hợp nhịp nhàn trong việc cất giấu, luân chuyển vũ khí, đạn dược, các nhu yếu phẩm cũng như đưa đón các đồng chí đặc công vào "lót ổ" bên trong nội thị thành công. Trong đó có thể kể đến một số cơ sở tiêu biểu như gia đình ông Nguyễn Đức Bá, Phạm Bồng, Hồ Lanh, Bùi Vật, Dư Tư Tòng, quán Cao Nguyên, Chùa Trung Khánh... .
Sau Chiến dịch Mậu Thân (1968), cơ sở tại bàn đạp có nhiều tổn thất, các cơ sở ở Trung Tín đều bị lộ và bị bắt, các hệ thống hầm bí mật đều bị phát hiện và phá hủy gây cho ta nhiều khó khăn. Nhưng vài tháng sau, ta đã dần khôi phục cơ sở, củng cố lực lượng vũ trang và các đội công tác. Trong thời gian này, Ban Cán sự H5 thành lập Đội Biệt động Ngoại ô lấy tên: "Thanh Niên Anh Dũng Tiến Lên" do đồng chí Nguyễn Thị Tuyến Nhung làm đội trưởng(2).
Tổ tự vệ mật tại Bàn đạp Trung Tín - H5 đến lúc này đã có 7 đồng chí: Mai Tâm, Mai Bảy, Nguyễn Ba (Nguyễn Văn Ba), Trần Thị Yến, Nguyễn Sen, Nguyễn Hồi, Nguyễn Thị Duyên.
  Ngoài ra, các hệ thống hầm công sự, hầm bí mật được đào mới hoàn toàn. Các hầm biệt động, hầm trú ẩn đều nằm rải rác khắp trên địa bàn Trung Tín đến khu Trà Nao (gần suối Đăk Cấm) và các hầm công sự hàng tại suối lầy cách đường tỉnh lộ 675 khoảng 1500m về phía Bắc.
  Để đưa phong trào cách mạng đi lên, nhằm đáp ứng tình hình mới, Ban Cán sự H5 đã chỉ đạo cho cơ sở tự vệ mật và đội biệt động tiếp tục đánh địch diệt ác phá kèm, hỗ trợ cho các đội công tác hoạt động và nhân dân đấu tranh chính trị...Trong đó, có thể kể đến một số trận lớn như đặt chất nổ C4 tại Câu Lạc bộ sỹ quan Mỹ vào tháng 6 năm 1969,  đánh  Rạp hát Bình Minh vào tháng 12 năm 1969 và nhiều trận đánh khác đã làm cho địch lúng túng, không kiểm soát được tình hình.
Trong mùa khô 1969-1970 địch đẩy mạnh "bình địch cấp tốc" quyết liệt vùng xung quanh thị xã. Chúng liên tiếp mở các cuộc càn quét sâu vào các vùng đứng chân của thị xã và các đội công tác mà chúng gọi là "mật khu của Việt Cộng" như Tri Đạo, Võ Định, Trung Tín, Phương Quý, Krong...chúng đóng chốt bảo an để hỗ trợ cho bọn kìm kẹp và bình định hoạt động. Tuy vậy, đến giữa năm 1970 bàn đạp Trung Tín vẫn được giữ vững và củng cố, tuy ở gần quận lỵ Kon Tum, địch ép dân rào ấp nhiều lần, nhưng nhân dân đấu tranh giằng co nhiều tháng liền, cuối cùng địch phải thôi.
Tháng 12 năm 1970, Ban cán sự H5 thay đổi mật danh cho các địa bàn hoạt động của H5 để đảm bảo giữ bí mật và bảo vệ cán bộ hoạt động trong tình hình mới. Trong đó, địa bàn Trung Tín và Thị xã được đổi thành mật danh A51, Ban cán sự H5 đổi mật danh thành F16(3). Đội công tác của A51 lúc này gồm có đồng chí đồng chíNguyễn Thế Vũ, đồng chí Nguyễn Thị Thanh Vân, Nguyễn Thị Lan Hương, Võ Thị Thanh Hương, Hoàng Thị Công, Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Huỳnh Nhất Duy, Nguyễn Thành Phương.
Để chuẩn bị Chiến dịch xuân hè năm 1972, đồng chí Trần Thanh Dân đưa về phụ trách thị xã. Tại bàn đạp Trung Tín, đồng chí Nguyễn Thế Vũ phụ trách, sẵn sàng hướng dẫn các đội công tác cũng như quần chúng đưa các lực lượng vào nội thị khi ta tấn công vào thị xã.
Sau thất thủ Đăk Tô - Tân Cảnh, địch tăng cường phòng thủ thị xã, lấy bàn đạp Trung Tín làm địa bàn đánh lấn ra vùng giải phóng của ta, chúng dồn dân vào thị xã. Đội công tác Bàn đạp đi vào nội thị phải sống trong điều kiện bom đạn dày đặc và chiến sự đang diễn ra ác liệt, không tiến vào trong được. Địa bàn Trung Tín bị bom đạn san bằng, dân cư bỏ chạy, nơi đây trở thành vùng trắng. Ta không liên lạc được với cơ sở và nhân dân nội thị.
Với tình hình trên, đội công tác của A51 phải chuyển sang địa bàn Tây Nam của thị xã để hoạt động và từ địa bàn này móc nối với nội thị cho đến ngày giải phóng tỉnh Kon Tum năm 1975.

(1): Đ/c Trần Văn Hai, Nguyễn Phô, Nguyễn Thị Bích Châu, Dương Hữu Trợ, Nguyễn Thị Lan Hương, Vũ Thị Minh Huệ.
(2):  Đ/c Nguyễn Thị Thanh Vân, Nguyễn Nhất Duy, Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Võ thị Thanh Hương , Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Thị Lan Hương.
(3): Hồ sơ lưu trữ tại kho Lưu trữ Tỉnh ủy Kon Tum năm 1970.
Tác giả bài viết: Bình Vương (Ghi chép)
Nguồn tin: Tạp chí Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Kon Tum số 66
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu Kon Tum

Thăm dò ý kiến

Bạn cần gì ở Thư viện?

Tài liệu hoàn toàn mới.

Tài liệu đa dạng, sử dụng miễn phí.

Sử dụng các dịch vụ và tiện ích miễn phí

Tất cả các ý kiến trên




Thống kê

  • Đang truy cập: 56
  • Khách viếng thăm: 5
  • Máy chủ tìm kiếm: 51
  • Hôm nay: 1604
  • Tháng hiện tại: 2648
  • Tổng lượt truy cập: 919149

Kết nối Kon Tum

Trang nhất   Giới thiệu   Tin Tức   Đăng nhập thành viên   Bạn đọc góp ý