thu vien kon tum
sự kiện

CUỘC ĐẤU TRANH LƯU HUYẾT CỦA NHỮNG CHIẾN SĨ CỘNG SẢN TÙ CHÍNH TRỊ TẠI NGỤC KON TUM

- Người đăng bài viết: Thư Viện tỉnh
CUỘC ĐẤU TRANH LƯU HUYẾT CỦA NHỮNG CHIẾN SĨ CỘNG SẢN TÙ CHÍNH TRỊ TẠI NGỤC KON TUM

CUỘC ĐẤU TRANH LƯU HUYẾT CỦA NHỮNG CHIẾN SĨ CỘNG SẢN TÙ CHÍNH TRỊ TẠI NGỤC KON TUM

1. Sự ra đời của nhà Lao Kon Tum:Khi thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị ở tỉnh Kon Tum (1913), một trong những công việc đầu tiên của chúng là tuyển mộ đội quân đánh thuê, dựng nhà tù và tạo lập những công cụ bạo lực và tàn ác để đàn áp dã man bất kỳ ai chống lại chúng.
Nhà lao Kon Tum (Prison de Kon Tum), sau này còn gọi là Lao trong, là nhà lao cấp tỉnh, được thực dân Pháp xây dựng 1915 – 1917, nằm ở phía Tây thị xã Kon Tum, gần sông ĐăkBla, cách đường 14 trên 1.000 mét về phía tây, gần với tòa nhà làm việc của công sứ Pháp, của giám binh, gần trụ sở của tên quản đạo và trại lính bảo an. Ban đầu xây dựng không kiên cố, bốn dãy nhà liền nhau thành một hình vuông kiểu pháo đài Vôbăng (Vuaban) của Pháp. Mặt trước bốn dãy nhà đều hướng vào một sân rộng mỗi chiều 18m. Nhà lợp ngói, tường đất, xung quanh không có tường cao, hàng rào đơn giản không chắc chắn lắm. Cả khu vực nhà lao chỉ có một cửa ra vào và hai chòi gác cao. Ngăn cách giữa sân với các phòng giam là hàng rào chắn song bằng gỗ dày, cứng chắc. Mỗi nhà giam có chiều rộng 3,5m, trong đó giành 2m lát ván nằm cho tù nhân, 1,5m là đường đi lại. Mỗi nhà lao có ba gian nhà lao phạt tương đối kiên cố để giam những tù án nặng. Cạnh cổng ra vào là phòng làm việc của quản lao. Thường xuyên có đơn vị lính khố xanh thay nhau canh giữ nghiêm ngặt nhhà lao. Nhà lao Kon Tum lúc đầu chỉ giam giữ những người địa phương mà thực dân Pháp ghép vào “tội” chống đối hoặc vi phạm “pháp luật” của chúng. Đến tháng 3 – 1931, để phục vụ cho công cuộc đàn áp những người cộng sản, thực dân Pháp tiếp tục xây dựng thêm một nhà lao thứ hai (còn gọi là Lao ngoài) để phân biệt với nhà lao ban đầu. Tại nơi đây, thời kỳ 1930 – 1931, thực dân Pháp đã biến nhà lao Kon Tum từ một nhà lao cấp tỉnh trở thành cái lò giết người tàn bạo nhất Việt Nam.
2.Nguyên nhân, diễn biến và kết quả Cuộc đấu tranh lưu huyết tại Ngục kon Tum:
  1. Nguyên nhân:Cuối năm 1930, phong trào cách mạng trong nước bị chính quyền thực dân ra sức đàn áp khủng bố ác liệt, hàng loạt chiến sĩ cộng sản bắt và giam cầm ở nhiều nhà tù của chúng lập ra khắp mọi miền đất nước trong đó có ngục Kon Tum.
Tại Ngục Kon Tum từ năm 1930 – 1933, thực dân Pháp đã giam cầm, đày ải trên 500 lượt tù chính trị phạm nhằm mục đích; lợi dụng nơi rừng thiêng nước độc, dân cư thưa thớt để cách ly tư tưởng cộng sản của họ với trung tâm đô thị và đồng bằng; giết dần, giết mòn những tù cách mạng mà không sợ tai tiếng và dư luận lên án. Đồng thời, sử dụng triệt để sức lao động của tù nhân làm đường 14, con đường chiến lược quan trọng nối từ miền Đông Nam bộ qua Tây Nguyên đến Quảng Nam – Đà Nẵng nhầm phục vụ cho công cuộc xâm lược và khai thác thuộc địa lần thứ II của chúng ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung.
Đoàn tù chính trị đầu tiên gồm 150 người từ nhà lao Vinh (Nghệ An) được đưa lên giam ở Ngục Kon Tum (tháng 12 – 1930) và sau đó, từ tháng 1 – 1931 đến tháng 4 – 1931, có ba đoàn tù chính trị cộng sản nữa từ nhà lao Vinh, Hà Tĩnh, Nha Trang lần lượt đày lên Kon Tum, nâng tổng số tù lên 295 người. Tất cả số tù chính trị này bị thực dân Pháp đưa ngay lên Đăk Pao (ĐăkGlei) để làm đường. Trên đường dài hàng trăm cây số, đoàn tù chính trị phải leo đèo, vượt suối, đi bộ nhiều ngày, mang nặng tư trang, dụng cụ, lại bị đòn liên miên của bọn lính. Người tù nào yếu đau nặng không đi nổi, chúng bắn chết dọc đường.
Thực dân Pháp đã thực hiện một cách triệt để cái gọi là lấy nhân công mở đường và tiêu diệt người cộng sản. Chúng đã biến con đường 14 trở thành “con đường máu”, là “mồ chôn” của những tù chính trị. Công việc trên công trường làm đường rất nặng nhọc, tù nhân làm lụng quần quặt, dầm mưa, dãi nắng, đầu không nón, không tấm che mưa, mỗi ngày lao công không dưới 10 tiếng đồng hồ, buổi trưa không được nghỉ ngơi, buổi tối không nghỉ đủ giấc, chân trong cùm, ăn uống kham khổ, đói khát. Vì điều kiện sống và lao động như thế nên tù nhân kiệt sức, bệnh tật nhiều, thuốc thang không có, còn bị bọn lính đánh đập tàn nhẫn. Ngoài những đánh đạp thông thường hàng ngày, bọn lính còn bày ra những trò chơi mang rợ để giết hại anh em tù. Do đó, số tù nhân chết ngày một nhiều. Từ tháng 12 – 1930 đến tháng 5 – 1931, chỉ trong 6 tháng làm đoạn đường dài 15 km từ Đăk Pao đi Đăk Pék đã có tới 150 người trong số 295 người tù chính trị đã bị chết một cách thê thảm, số còn lại chỉ là da bọc xương. Đoạn đường này được những người tù ví như địa ngục trần gian.
 
Tháng 6 – 1931 mùa mưa đến, thực dân pháp đưa tù chính trị về thị xã để giam giữ và lao động khổ sai tại đó. Đồng bào thị xã Kon Tum đã được chứng kiến tận mắt cảnh tượng tù chính trị đi làm đường trở về. Hình ảnh những người tù như những thay ma là một tang chứng hùng hồn về tội ác của thực dân Pháp, đã tác động sâu sắc đến lòng yêu nước, yêu giống nòi của đồng bào Kon Tum. Cũng trong tháng 6 – 1931, thực dân Pháp lần lượt đưa các tù chính trị khác từ Huế và Quy Nhơn lên nâng tổng số tù nhân bị giam tại ngục Kon Tum là 200 người.
Đứng trước cái chết đang đón đợi phía trước, những người tù chính trị đã phải tìm cho mình một con đường sống. Dù họ biết rằng, con đường sống đó cũng có thể phải trả giá bằng chính sự sống của bản thân cũng như của anh e đồng chí. Song họ hy vọng rằng: “Sau khi ta chết rồi, họa may mấy trăm anh em mới còn phương sống” như lời một tù chính trị tâm sự trước khi bước vào cuộc đấu tranh. Trong cảnh tù ngục, những người tù chính trị đã chuẩn bị cho mình những phương thức đấu tranh mà mình có thể thực hiện được. Họ đã thành lập ban lãnh đạo nhà lao, đội cảm tử và quyết tử, tích cực hoạt động, tuyên truyền, vận động, giác ngộ nhân dân và binh lính, làm cho họ hiểu rõ hơn, đúng hơn về người tù chính trị. Được chứng kiến tận mắt về sự thật đối xử với tù chính trị của chính quyền thực dân và sự tích cực tuyên truyền của chi bộ binh, chi bộ đường phố; quần chúng nhân dân thị xã vô cùng khâm phục tinh thần bất khuất anh hùng của tù chính trị - những người yêu nước chân chính. Tình cảm của đồng bào với tù nhân cộng sản trở nên thân thiết. Thái độ và hành động đới xử của binh lính đối với tù cũng khác hơn trước. Một số anh em lính bắt đầu chống lại bon chỉ huy, họ đứng về phía tù đấu tranh khi chúng bắt tù đi làm ngày chủ nhật hoặc chống lại sự đàn áp người tù.
Đầu tháng 7 – 1931, sau khi chi bộ binh ở nhà lao bị khủng bố ( Lao trong ), địch đưa đồng chí Ngô Đức Đệ ( người sáng lập chi bộ đầu tiên ở Kon Tum ) ra giam giữ ở Lao ngoài. Ở Lao ngoài số tù chính trị cũ và mới gặp nhau, được đồng chhí Ngô Đức Đệ thông báo tình hình tù nhân làm đường, sự đàn áp, đầy đọa tù nhân của địch, tình hình của chi bộ binh, chi bộ đường phố… nên hộ đã nhanh chống hình thành ban lãnh đạo với sự phân công cụ thể cho từng thành viên như một số đồng chí làm nhiệm vụ xây dựng nội bộ về tư tưởng và tổ chức, một số đồng chí lo việc nghiên cứu đấu tranh, để ra yêu sách, tuyên ngôn, soạn các bài tuyên truyền bằng tiếng phổ thông, tiếng Pháp, tiếng Ba Na, tiếng Gia Rai. Ban lãnh đạo chung của tù nhân nhất trí hạ quyết tâm: “ Muốn sống không có con đường nào khác ngoài con đường đấu tranh mà Đảng đề ra. Muốn bảo đảm cuộc đấu tranh thắng lợi, nhất định chúng ta phải làm cho anh em đoàn kết nhất trí, có quyết tấm cao. Phải đấu tranh kiên quyết, bền bỉ, có kế hoạch chu đáo” (theo Hồi ký của đồng chí Ngô Đức Đệ). Mục tiêu đấu tranh là đòi thực dân Pháp bãi bỏ chế độ giết người dã man đối với tù chính trị, ưu đãi tù chính trị.
Có mục tiêu, có tổ chức, kinh nghiệm đấu tranh của một tập thể tù nhân khoảng 200 người giờ đây đã dày dạn hơn, khôn khéo hơn. Nhiều cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau đã liên tục nổ ra, tỏng đó có cuộc đấu tranh lưu huyết phản đối việc bắt tù chính trị đi làm con đường 14 lần thứ 2 tại Đăk Pék.
  1. Diễn biến:Sáng ngày 12 – 12 – 1931, với âm mưu định sẵn, bọn cầm quyền phân tán anh em tù nhân đi làm các nơi nhằm xé lẻ đội ngũ tù, còn khoảng 40 người, chúng ra lệnh quay về phòng lấy quần áo để đi Đăk Pék. Trong số đó có 4 đồng chí là thành viên ban lãnh đạo nhà tù (Đặng Thái Thuyến, Trương Qung Trọng, Nguyễn Huy Lung, Hồ Độ) và cả 40 tù nhân này đều là thành viên của đội cảm tử, quyết tử. Do biết trước việc địch chuẩn bị đưa tù đi làm dường lần thứ 2 tại Đăk Pék, anh em tù ở lao ngoài đã chuẩn bị để đối phó. Cuộc đấu tranh bắt đầu. Tất cả 40 tù nhân chậy vào phòng giam khóa chặt cửa lại và đồng thanh hô các khẩu hiệu “ Nhất định không đi Đăk Pék “, “ Phản đối đi Đăk Pék “, “ Phải bải bỏ chế độ bắt tù chính trị đi làm đường”, “Bãi bỏ chế độ đánh đập, bắt giết tù”… Đồng chí Nguyễn Huy Lung (số tù 299) thay mặt anh em trả lời tên đội Mulê (Moulet) lýdo không đi ĐăkPék: “ Lần trước bi hãm hại một cách rất tàn ác, anh em chúng tôi chết hai phần ba. Bây giờ bắt chúng tôi đi nữa cho chết hết hay sao?”.
Sau đó, công sứ, giám binh, nhiều binh lính kéo đến bao bây xung quanh nhà lao. Trong lao, anh em vẫn hô vang các khẩu hiệu và xiết chặt hàng ngũ, đứng sắp hàng trước cửa lao, dùng gậy gộc đã chuẩn bị trước chống lại, không để cho bọn địch vào định bắt từng người đưa đi. Theo lệnh công sứ, viên đội Mulê cầm súng, tiến lại cửa nhà lao gọi: “Thằng tù số 299 đâu?”. Anh em trong nhà lao đồng thanh trả lời: “Không có tù số 299! Đả đảo đi Đăk Pék”. Nhưng đúng lúc ấy, đồng chí Trương Quang Trọng (số tù 303) đang đứng ở hàng đầu đã phanh áo, chỉ vào ngực, nói bằng tiếng Pháp “Le voici” (nó ở đâu). Tên Nulê lập tức bóp cò, đồng chí Trọng hi sinh.
Hành động anh dũng chết thay cho đồng đội của đồng chí Trương Quang Trọng và tội ác giết người không gớm tay của bọn cầm quyền Pháp đã thôi thúc anh em đấu tranh quyết liệt hơn, sẵn sàng đương đầu với súng đạn. Bọn địch đã điên cuồng nã đạn xối  xả vào các anh em tù. Cuộc đấu tranh của anh em tù chính trị đã bị kẻ thù tàn sát đẫm máu làm 8 người chết, 8 người bị thương.
Sáng ngày 13-12-1931, số anh em tù còn lại đã tổ chức lễ truy điệu cho các đồng chí, đồng đội đã hi sinh.Trong niềm đau thương vô hạn, nỗi uất hận khôn lường, tù nhân càng siết chặt đội ngũ, đoàn kết chặt chẽ, đấu tranh đến cùng. Sau lễ truy điệu, anh em tù đã có ngay bài nói chuyện tuyên truyền cho binh lính ngay tại sân nhà lao. Chiều ngày 13-12-1931, bản  tuyên ngôn chính trị và yêu sách của tù nhân được chuẩn bị và dịch ra tiếng Pháp, tiếng dân tộc địa phương. Bản tuyên ngôn đã vạch trần chế độ đối xử tàn bạo với tù chính trị của thực dân Pháp, đòi nhà cầm quyền Pháp phải chịu trách nhiệm về sự tàn bạo này.
Cuộc đấu tranh của anh em tù ngày càng sôi sục. Tù chính trị đấu tranh tuyệt thực để phản đối đi làm đường, phản đối  bắn giết. Sáng ngày 16-12-1931, thực dân Pháp một lần nữa nã súng và lựu đạn để đàn áp cuộc đấu tranh tuyệt thực làm cho 7 đồng chí hy sinh và 8 đồng chí bị thương. Cả hai đợt đấu tranh trực diện, thực dân Pháp đã giết hại 15 đồng chí và làm bị thương 16 đồng chí.
c. Kết quả:Sau cuộc đấu tranh này, có 50 người là tù chính trị có án nhẹ và một số tù thường phạm được thả về. Tuy cuộc đấu tranh bị tàn sát đẫm máu, nhưng với tinh thần anh dũng hy sinh, ý chí quật cường cách mạng của các chiến sỹ cộng sản, buộc nhà cầm quyền Pháp phải nhượng bộ từng bước như: thay đổi chế độ lao địch của tù, bỏ chế độ đánh đập tù nhân, người tù ốm đau được nghỉ và có thuốc men. Tháng 12-1932, địch bỏ hẳn việc đưa tù chính trị đi làm đường 14. Tháng 4-1934, thực dân Pháp phải xóa bỏ nhà đày Kon Tum và đưa tất cả số tù chính trị còn lại vào nhà đày Buôn Ma Thuột.
3. Ý nghĩa của Cuộc đấu tranh Lưu huyết tại Ngục Kon Tum.
Cuộc đấu tranh Lưu huyết tại Ngục Kon Tum là một sự kiện lớn, gây chấn động đối với thực dân Pháp ở ngay tại Kon Tum và toàn cõi Đông Dương, khiến cho chúng phải thay đổi chế độ đối xử với tù chính trị ở Đông Dương. Cuộc đấu tranh này đã có tiếng vang lớn trong dư luận thế giới về tự do công lý và nhân phẩm con người, làm cho thế giới biết rõ hơn về  chính sách cai trị cũng như chính sách lao tù của thực dân Pháp ở Kon Tum nói riềng và trên toàn cõi Đông Dương nói chung.
Cuộc đấu tranh không cân sức giữa những người tù tay bị xiềng xích, gông cùm với kẻ địch có trong tay thừa súng đạn; ý chí kiên cường, tinh thần đấu tranh anh dũng vì độc lập, tự do và hình ảnh các chiến sĩ ngã xuống để giữ gìn khí tiết người cộng sản đã tác động sâu sắc đến đồng bào các dân tộc Kon Tum, đến binh lính, công chức trong hàng ngũ địch. Nhân dân Kon Tum hiểu rõ hơn về chế độ lao tù, về những người cộng sản và về Đảng nên quyết tâm đi theo Đảng để giành độc lập, tự do. Nhiều binh lính, công chức trong hàng ngũ địch đã giác ngộ theo cách mạng.
Cái chết “đỏ” của 15 anh em tù chính trị trong nhà lao Kon Tum là bản án tố cáo bộ mặt dã man tàn bạo của thực dân Pháp. Tuy chưa bỏ dã tâm giết hại tù chính trị cộng sản nhưng việc giải thể nhà đày Kon Tum là sự thừa nhận thất bại của Pháp trước tinh thần đấu tranh quyết tử của tù chính trị và nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum.
75 năm trôi qua, quá khứ đã khép lại, lịch sử đã sang trang nhưng những tội ác của thực dân, đế quốc đã gây ra cho dân tộc Việt Nam mãi mãi không bao giờ xóa được trong trái tim của những người Việt Nam yêu nước. Hình ảnh những người tù chính trị đã ngã xuống vì độc lập, tự do cho đất nước, vì lý tưởng của Đảng đã đi vào lịch sử một Ngục Kon Tum kiên cường, bất khuất – một biểu tượng về lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, kiên trung, anh dũng của những người cộng sản. Các anh đã tô thắm thêm truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng của quê hương Kon Tum anh hùng.

Nguồn tin: Tạp chí Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Kon Tum số 69
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu Kon Tum

Thăm dò ý kiến

Bạn cần gì ở Thư viện?

Tài liệu hoàn toàn mới.

Tài liệu đa dạng, sử dụng miễn phí.

Sử dụng các dịch vụ và tiện ích miễn phí

Tất cả các ý kiến trên




Thống kê

  • Đang truy cập: 8
  • Hôm nay: 528
  • Tháng hiện tại: 528
  • Tổng lượt truy cập: 917029

Kết nối Kon Tum

Trang nhất   Giới thiệu   Tin Tức   Đăng nhập thành viên   Bạn đọc góp ý