thu vien kon tum
sự kiện

Phát huy vai trò Già làng, Trưởng bản trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Kon Tum

- Người đăng bài viết: Thư Viện tỉnh
Phát huy vai trò Già làng, Trưởng bản  trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Kon Tum

Phát huy vai trò Già làng, Trưởng bản trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Kon Tum

Trong tâm niệm của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung và trên địa bàn tỉnh Kon Tum nói riêng; già làng, trưởng bản là những người có nhiều uy tín cao trong đồng bào các dân tộc thiểu số. Họ là những tấm gương sáng mẫu mực, khuôn thước trong ứng xử, giao tiếp, hành xử đối với mọi thành viên trong buôn làng; đồng thời gương mẫu thực hiện những quy định của luật tục, giữ gìn và đảm bảo sự bền vững trong các mối quan hệ giữa các thành viên sinh sống ở buôn làng. Họ được ví “như những cây xà nu đứng chẳng lay giữa đại ngàn”, là chỗ dựa tinh thần giàu lòng nhân ái vị tha, nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc để giữ cho buôn làng được yên vui, bếp lửa nhà nào cũng đỏ, nhà nào cũng vang tiếng cồng, tiếng chiêng trong mùa lễ hội.
Kon Tum là một tỉnh miền núi có trên 53% dân số là người dân tộc thiểu số cùng chung sống; Trong đó có trên 800 người là già làng, trưởng bản có nhiều uy tín trong đồng bào các dân tộc trong toàn tỉnh. Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể đã thực hiện nhiều chính sách, biện pháp để tập trung, củng cố và tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò của các già làng, trưởng bản. Vì đây là một lực lượng quan trọng và nòng cốt trong việc vận động bà con dân làng thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước; hàng trăm già làng tiêu biểu đã làm tốt vai trò, chức năng và nhiệm vụ của mình trong cuộc sống hàng ngày và trong tâm linh của đồng bào các dân tộc.
Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Bah Nar, Gia Rai, Xê Đăng, Rơ Ngao, Hà Lăng… người đàn ông cao tuổi và có nhiều uy tín với nhân dân trong buôn, làng được nhân dân bầu làm già làng; được sinh ra, lớn lên và có mối quan hệ khắn khít với buôn làng. Hơn nữa, gia đình và bản thân của các già làng, trưởng bản được coi như một cộng đồng nhỏ sống hoà thuận, hạnh phúc và tuyệt nhiên không có những thói hư, tật xấu như trộm cắp, say sưa, lười biếng trong lao động…, mà là những người luôn gương mẫu đi đầu trong thực hiện, điều hành, điều chỉnh và uốn nắn các thành viên trong cộng đồng thực hiện tốt các quy định của luật tục, ngay cả khi khen thưởng những người có công và phạt vạ những người có tội; ai được khen thì không phải hàm ơn và ai bị phạt thì không cảm thấy áy náy và ấm ức oan khiên. Đây chính là “quyền uy vô hình” mà người dân tôn thờ, ẩn chứa sâu sắc trong “quyền uy” ấy là mực thước, là khuôn mẫu, là hành động có động cơ trong sáng chứ không gợn một chút vụ lợi, thậm chí cả trong suy nghĩ của các già làng; bởi thế, các thế hệ sau thường nghe theo, tuân theo và tự nguyện làm theo già làng. Vì các cụ già làng là những người có uy tín, am hiểu luật tục cũng như tâm tư, nguyện vọng của mọi thành viên trong cộng đồng, được dân làng bầu ra để giải quyết, phân xử những xích mích mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng. Ngày nay, già làng còn là người vận động, giải thích và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đồng thời tham gia tích cực các sinh hoạt của cuộc sống cộng đồng hôm nay.
Ở Kon Tum hiện nay, các cụ già làng thật sự là những “cây cao bóng cả”, bao trùm đời sống tinh thần của cộng đồng, họ truyền thụ những kinh nghiệm đã được tích luỹ trong lịch sử của cha ông cho các con cháu và họ còn là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần to lớn của nhân dân trong buôn làng. Ngoài ra, các cụ già làng, trưởng bản trong các dân tộc thiểu số ở tỉnh Kon Tum luôn ra sức tuyên truyền và phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng của dân làng, vận động dân làng, con cháu ra sức thi đua lao động sản xuất để làm ra nhiều của cải vật chất cho gia đình và làm giàu cho xã hội, góp phần xây dựng quê hương; ở từng thôn, làng, các cụ là những tấm gương sáng cho mọi người noi theo, luôn đi đầu trong việc vận động nhân dân, con cháu tích cực thực hiện các mục tiêu đề ra như: Xoá đói, giảm nghèo, định canh, định cư, giãn dân tách hộ lập vườn, bài trừ các tập tục lạc hậu, ma chay, cúng bái, cưới hỏi, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc, thực hiện tốt chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình, làm tốt công tác vận động thanh niên lên đường nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc, vận động nhân dân nâng cao cảnh giác trước những âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch tìm cách phá hoại khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh chính trị và trật tư an toàn xã hội, bảo đảm cuộc sống bình yên cho buôn làng. Những hoạt động tự nguyện của họ đã và đang tiếp thêm sức mạnh cho khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần vào sự ổn định chính trị và đảm bảo sự thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước. Điển hình như: già làng A Đrêng 85 tuổi, dân tộc Mơ Nâm ở làng Kon Pring, xã Đắk Long, huyện Kon Plông; Già làng A Nhang 78 tuổi, dân tộc Rơ Ngao, một giáo dân Công giáo ở làng ĐăkRijop, xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô; Già làng A Nhô 91 tuổi, dân tộc Bah Nar, ở làng Plei Rơ Hai 2, phường Lê Lợi, thành phố Kon Tum; già làng A Gờ Lá sinh ra trong một gia đình là người dân tộc Rơmâm ở làng Le Rơ Mâm, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy là một địa bàn Biên giới, vùng sâu, vùng xa, giáp với nước Campuchia, già làng A Gờ Lá sớm giác ngộ cách mạng và tham gia công tác cách mạng, trải qua nhiều nhiệm vụ đảm đương, gìa làng A Gờ Lá đều hoàn thành nhiệm vụ được phân công. Sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, nhưng với đặc thù là một xã Biên giới, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá cách mạng, thâm nhập bằng đường bộ vào địa bàn xã để về Việt Nam chống phá Đảng và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khi đó, gìa A Gờ Lá được Đảng bầu làm Bí thư Đảng uỷ xã, ông đã cùng tập thể Ban chấp hành Đảng bộ xã lãnh đạo nhân dân ra sức khắc phục hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, tạo dựng lại cuộc sống mới cho người dân ở vùng Biên giới có cuộc sống ổn định… Trước đây, gia đình của các già làng cũng rất khó khăn so với nhiều gia đình khác trong buôn, làng. Thế nhưng, khi được cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp từ tỉnh đến xã quan tâm khuyến khích đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, làm giàu chính đáng, nâng cao đời sống thì các già làng trong tỉnh luôn là người đầu tiên hưởng ứng và cùng với các con cháu trong gia đình hăng say lao động sản xuất để đem lại đời sống ấm no cho gia đình. Như gia đình già làng A Đrêng đã khai hoang được 0,3 ha lúa nước hai vụ; 0,1 ha lúa nước một vụ, lương thực làm ra mỗi năm được từ 2-3 tấn thóc; trồng được 0,3 ha mì, nuôi 10 con trâu, 03 con heo và hàng chục con gà, vịt. Mỗi năm thu nhập từ các khoản kinh tế của gia đình, trừ tất cả chi phí còn lãi được 20 triệu đồng; Già làng A Nhang, trước đây gia đình ông cũng còn khó khăn nhiều lắm; nhưng đã nghe theo Đảng và làm theo Đảng đến nay, gia đình ông đã khai hoang trồng được 0,5 ha lúa nước; trồng 2.000 m2 mỳ và trồng xen bắp, nuôi 2 con bò. Mỗi năm thu nhập từ các khoản kinh tế của gia đình, trừ tất cả chi phí còn lãi 30 triệu đồng; gia đình ông được xếp vào loại khá về mọi mặt ở trong làng. Mọi người đều khen ngợi ông làm việc gì cũng giỏi, có lẽ không ngoa. Bởi, không chỉ làm kinh tế giỏi, ông còn tham gia công tác xã hội ở địa phương, hiện là Chi hội trưởng Hội Người cao tuổi và Già làng có nhiều uy tín được nhân dân tin yêu, mến phục; Già làng A Nhô từ chỗ nghèo khó, ông đã chịu thương, chịu khó làm ăn để tạo lập cho gia đình có một cuộc sống khá đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần, kinh tế gia đình đã khấm khá hẳn lên, có của ăn của để, mỗi năm còn tích luỹ được hơn 40 triệu đồng, nhà cửa được xây dựng khang trang, lo cho con cái ăn học đến nơi đến chốn, được nhân dân ở khu dân cư­ tin yêu mến phục.
Nhận thức được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo đến đời sống của đồng bào các dân tộc; đội ngũ các già làng, trưởng bản ở các địa phương trong tỉnh, họ đã thể hiện rõ vai trò, vị trí và uy tín của mình trong việc vận động nhân dân ra sức thi đua lao động sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, họ là những người luôn tiên phong gương mẫu đi đầu trong sinh hoạt và sản xuất, với trách nhiệm là người điều khiển chung công việc của cộng đồng, xóm làng, dòng tộc, là người am hiểu các tập tục, lễ nghi, bản sắc văn hoá của dân tộc, là người được trực tiếp đối xử với người dân trong làng khi vi phạm luật tục, tranh chấp, vợ chồng không hoà thuận… Các già làng đã đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, tuyên truyền vận động bà con nhân dân các dân tộc trong buôn làng phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng, chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tích cực vận động nhân dân tham gia hưởng ứng thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”; cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”; phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” đối với các đối tượng chính sách là thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng lực lượng vũ trang và những người có công với nước với dân và các phong trào khác do địa phương phát động. Bên cạnh đó các già làng còn vận động dân làng sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật, các cụ còn là những nhân tố quan trọng trong việc phát huy và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống cộng đồng, đặc biệt là việc tham gia xây dựng và thực hiện qui ước, hương ước của cộng đồng. Những công lao đóng góp của các cụ già làng, trưởng bản đã góp phần làm thay đổi bộ mặt cuộc sống của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện và nâng lên đáng kể, củng cố niềm tin của đồng bào đối sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành quản lý của Nhà nước. Ngoài những giờ lao động nhọc nhằn, các già làng còn tranh thủ thời gian khuyên bảo và dạy bảo lớp thanh niên trong làng biết đánh cồng, đánh chiêng và sử dụng các loại nhạc cụ của dân tộc. Già làng còn chỉ ra những điều hay lẽ phải, tìm mọi cách thuyết phục bà con dân làng không nên nghe theo lời bọn xấu dụ dỗ, lôi kéo để tìm cách chống phá cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên quyết đấu tranh và làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn ở địa phương.
Cần phát huy vai trò, vị trí và uy tín của các già làng, trưởng bản; Cấp uỷ, chính quyền và Mặt trận các đoàn thể các cấp, cần thường xuyên phối hợp tổ chức gặp mặt, giao lưu, toạ đàm các già làng, trưởng bản theo từng cụm xã, phường hay cụm khu dân cư, vì đây là một việc làm có ý nghĩa mang tính chính trị, xã hội sâu sắc để từ đó giúp các cụ già làng, trưởng bản nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước một cách nhanh nhất; từ đó để các cụ nắm vững sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước về phổ biến, truyền đạt lại cho dân làng, động viên dân làng tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; Mặt khác, cũng cần có một chính sách đãi ngộ thoả đáng, tạo điều kiện thuận lợi để giúp các cụ già làng, trưởng bản phát triển kinh tế gia đình, làm giàu hợp pháp, động viên và khuyến khích các cụ tham gia công tác xã hội nhiều hơn và có trách nhiệm hơn với công việc chung, để họ tiếp tục cống hiến sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế./.   
Tác giả bài viết: Nguyễn Đăng Bình
Nguồn tin: Tạp chí Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Kon Tum số 78
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu Kon Tum

Thăm dò ý kiến

Bạn cần gì ở Thư viện?

Tài liệu hoàn toàn mới.

Tài liệu đa dạng, sử dụng miễn phí.

Sử dụng các dịch vụ và tiện ích miễn phí

Tất cả các ý kiến trên




Thống kê

  • Đang truy cập: 13
  • Khách viếng thăm: 12
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 1616
  • Tháng hiện tại: 2660
  • Tổng lượt truy cập: 919161

Kết nối Kon Tum

Trang nhất   Giới thiệu   Tin Tức   Đăng nhập thành viên   Bạn đọc góp ý