thu vien kon tum
sự kiện

NGHỀ LÀM GỐM CỦA NGƯỜI BA NA (JƠ LÂNG)

- Người đăng bài viết: Thư Viện tỉnh
NGHỀ LÀM GỐM CỦA NGƯỜI BA NA (JƠ LÂNG)

NGHỀ LÀM GỐM CỦA NGƯỜI BA NA (JƠ LÂNG)

Nghề gốm của người Ba Na (Jơ lâng) ở xã Đắk T’re , huyện Kon Rẫy có từ bao giờ không ai nhớ rõ, chỉ nghe người già ở đây kể lại rằng: Ngày xưa, đã lâu lắm rồi có một người phụ nữ bị cùi ở vùng Đắk Ruồng bị làng đó đuổi đi. Bà đã phiêu dạt đến vùng Đắk T’re và được dân làng ở đây chấp nhận, cưu mang. Người phụ nữ đó có nghề làm gốm và đã dạy cho dân làng ở đây nghề này. Bà đã trở thành bà tổ làm gốm ở vùng Đắk T’re. Nghề truyền nghề, đời này nối tiếp đời kia, các sản phẩm gốm của người Ba Na ngày nay, vẫn còn lưu giữ được nét độc đáo mang dấu ấn văn hóa cổ. Từ những khối đất vô tri vô giác, qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ đã tạo ra những vật dụng cần thiết phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như: nồi, ghè, bát…
Với tính chất là nghề phụ nên gốm chỉ được sản xuất vào những lúc nông nhàn, rỗi rãi. Từ xa xưa, người Ba Na đã có sự phân công công  việc khá rõ ràng. Nếu như săn bắt  là việc của đàn ông, thì  hái lượm, dệt vải, làm gốm…là việc của người phụ nữ. Chính vì thế toàn bộ các khâu trong quá trình làm gốm đều do người phụ nữ đảm nhiệm. Làm gốm là một công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn, sự khéo léo và tỉ mỉ của người thợ gốm. Người thợ tạo hình cho sản phẩm bằng đôi tay, bằng kinh nghiệm và bằng bằng những tri thức dân gian cộng với sự trợ giúp của những dụng cụ thô sơ như: vòng tre (koong lan), hòn đá cuội (tôm ơ –ngiel), miếng vải mịn.
* Quy trình làm gốm.
- Khai thác đất.
+ Chọn đất:
Khâu quan trọng đầu tiên trong sản xuất gốm là khai thác đất. Theo kinh nghiệm của người Ba Na ở đây, cả vùng chỉ có một vài điểm có chất đất phù hợp cho việc nặn và nung đồ gốm. Đất sét ở đây thường được lấy ở trước làng Kon Xâm Blũh, chỗ khe nước Đắk Tbăng jỗ (nước măng chua). Từ xa xưa đến nay ,bà con cũng chỉ khai thác đất ở nơi này, vì đất sét ở đây có độ dẻo cần thiết và có một tỉ lệ pha cát nhất định, nên trong quá trình làm gốm và nung gốm các sản phẩm sẽ không bị nổ, vỡ.
+ Làm lễ cúng đất:
Cũng như hầu hết các dân tộc bản địa khác, người Ba Na theo tín ngưỡng đa thần, nghĩa là tin thờ nhiều vị thần, gọi chung là Giàng. Trước khi làm những việc hệ trọng, người Ba Na thường dâng lễ vật cho các vị thần và xin họ phù hộ cho mình làm được việc.
Theo quan niệm của người Ba Na, đất sét ở đây được tạo thành từ phân của thần Prao (thần rồng). Chính vì quan niệm ấy mà trước khi lấy đất người phụ nữ sẽ tiến hành nghi lễ cúng Gìang Prao để xin đất.
Để tiến hành nghi lễ, người ta chọn một con gà trắng cắt lấy tiết. Tiết gà được đựng trong một đoạn lồ ô cắt bỏ một đầu có chiều cao tầm 15cm. Sau khi đã chuẩn bị xong người phụ nữ lấy phần ngọn của bông đót nhúng vào tiết gà và vảy quanh khu đất đã chọn. Khi nghi thức vảy tiết gà xong, người phụ nữ sẽ tiến hành khấn xin thần Prao, nội dung lời khấn như sau: “Xin giàng Prao phù hộ cho cái đất sét này, để chúng tôi làm đồ gốm được bền đẹp”, rồi mới tiến hành khai thác đất.
+ Lấy đất và xử lý đất thô thành đất nguyên liệu:
Lấy đất là một công đoạn đòi hỏi phải có kinh nghiệm, phải biết độ nông sâu ra sao, màu đất thế nào, có như vậy mới lấy được đất tốt. Thông thường đất được lấy ở độ sâu khoảng 1m. Vì ở lớp này, đất sét có màu hơi vàng chanh và có độ kết dính cao.
Dụng cụ để đào đất là loại thuổng nhỏ mà người Ba Na (Jơ lâng) gọi là Nhiek. Thông thường họ đào hết lớp đất mặt đến độ sâu khoảng 1m thì dùng Nhiek sắn từng khối đất nhỏ hình vuông rồi lấy lên cho vào gùi mang về nhà.
Đất sau khi lấy về được dàn mỏng ra trên cái nia và phơi cho thật khô. Nếu trời nắng thì phơi 7 ngày, nếu trời râm mát thì phải phơi khoảng 15 ngày. Sau khi đã phơi khô, đất sét được đưa vào cối giã gạo giã cho nhỏ rồi dùng sàng (sàng gạo) sàng lấy đất mịn.
Tùy thuộc vào ý định của người thợ làm sản phẩm gì? Số lượng bao nhiêu mà người ta sàng đất nhiều hay ít. Sau khi sàng xong, đất được bỏ vào trong một cái máng (máng là một khúc gỗ to có đường kính từ 25 – 30cm,  dài khoảng 35 – 40cm) và cho một lượng nước vừa phải rồi nhào, đập và vỗ thật kỹ sao cho đất thật dẻo và có độ kết dính tốt.
Khi công đoạn trộn đất đã hoàn thành, người ta tiến hành công đoạn tiếp theo. Để chuẩn bị cho việc chế tạo sản phẩm gốm, đất sau khi nhà nặn kỹ sẽ được được chia nhỏ và cuốn lại thành những cục hình trụ.
Tùy theo kích thước và loại sản phẩm định chế tác mà người thợ sẽ phân chia đất thành những cục to, nhỏ khác nhau.
     
- Quy trình nặn sản phẩm.
Các sản phẩm gốm của người Ba Na là những vật dụng gần gũi và gắn bó mật thiết với đời sống của con người như: nồi đất (gọh teh), bát ăn cơm (pơ nhan), ghè (jỡ)… Quy trình để chế tác các sản phẩm gốm về cơ bản giống nhau. Người thợ sẽ nặn phần thân, rồi đến miệng gốm và khâu cuối cùng là nặn đế cho sản phẩm. Riêng về quy trình nặn ghè có hơi khác. Người ta làm phần đáy trước. Sau khi tạo hình cơ bản xong, người thợ sẽ phát triển kích thước của gốm bằng cách nối những lọn đất dài gọi là con trạch để làm phần thân và miệng cho sản phẩm.
Để tạo hình gốm, người thợ thủ công lấy một tấm phên nhỏ (knang) cỡ 30 x 30cm, đan bằng tre đặt lên phần đế cối giã gạo. Trên tấm phên nhỏ đó lại lót thêm một lá chuối hoặc lá dầu. Tạo hình là một khâu rất quan trọng, nó quyết định đến chất lượng và tính thẩm mỹ của mỗi sản phẩm. Công đoạn này đòi hỏi người thợ gốm phải thành thục những kỹ năng, kỹ thuật như: ấn, giát khéo léo, tạo dáng chuẩn xác, tinh tế. Đất dẻo được nặn thành hình con trạch khoanh tròn lại, đặt trên miệng phên tre và người thợ bắt đầu tạo hình gốm.
Ngày nay, khó có thể tìm thấy nghề nào mà việc sáng tạo sản phẩm không phải cần đến các dụng cụ lao động như nghề làm gốm của người Ba Na ở Kon Tum. Từ khối đất nguyên liệu, những bàn tay khéo léo của người thợ nặn, tạo hình sản phẩm theo nhiều chủng loại và kích cỡ khác nhau.
Nét độc đáo trong nghề gốm thủ công truyền thống của người Ba Na vùng Đắk Tr’re chính là dùng bàn kê cố định trong khi tạo hình, tạo dáng cho sản phẩm. Với một hòn kê cố định, người thợ đi vòng quanh theo ngược chiều kim đồng hồ để tạo hình các sản phẩm theo ý muốn. Kỹ thuật này đòi hỏi sự kết hợp hết sức nhuần nhuyễn giữa đôi tay, bước di chuyển của chân, sự quan sát tinh tường của mắt. Với bàn tay khéo léo cùng với sự thuần thục những kỹ thuật tạo hình, người thợ gốm đã tạo nên biết bao sản phẩm cần thiết cho cuộc sống.

Sản phẩm được hơ qua lửa trước khi nung
 
Quy trình tạo hình  được bắt đầu từ việc nặn phần thân của sản phẩm trước. Sau khi tạo hình cơ bản xong, người thợ tay trái giữ thành gốm, tay phải cầm một miếng cật tre cuộn tròn thành một chiếc vòng gọi là Koong nạo phía trong thân gốm. Vòng tre được cuộn thành từng vòng to nhỏ khác nhau, tùy theo kích thước của của sản phẩm định chế tác. Người thợ một tay nặn và giữ thành sản phẩm, một tay nạo để chỉnh sửa. Khi tay trái giữ đỡ phía ngoài thì tay phải dùng miếng cật tre nạo chỉnh phía trong theo chiều từ dưới lên sao cho thành gốm mỏng đều. Nếu tay trái đã giữ thành gốm phía trong thì tay phải lại nạo, chỉnh sửa phía ngoài. Đất nạo ra được dùng để bổ khuyết vào những chỗ thiếu, thành gốm mỏng. Trong quá trình làm, thỉnh thoảng người thợ dùng một miếng giẻ ướt vuốt nhẹ lên thân gốm để bổ sung lượng nước đã bay đi, làm cho đất dẻo và cũng để miết láng phần thân của sản phẩm. Đến khi hoàn chỉnh, họ dùng giẻ ướt miết láng lại toàn bộ thân gốm một lần cuối rồi để cho khô.
Sau khi tạo hình thân gốm cơ bản xong, người ta tiến hành làm miệng cho sản phẩm . Họ cũng nặn đất thành hình con trạch cuộn tròn lại rồi từ từ nặn thành miệng gốm. Sau đó gắn miệng vào thân rồi chỉnh sửa. Khác với khi nặn thân gốm, khi nặn và chỉnh sửa miệng gốm, người thợ thủ công lại di chuyển xung quanh cái cối theo chiều kim đồng hồ và cũng cứ một tay giữ, đỡ phần miệng, một tay nạo, chỉnh sửa. Khoảng 45 phút thì xong phần thân và miệng.
Thân và miệng gốm làm xong, chờ khoảng một ngày cho khô thì làm tiếp đáy. Dùng một cục đất dẻo nhỏ đặt vào trong đáy, dàn ra rồi gắn liền với thân gốm. Để chỉnh sửa đáy  và sản phẩm, đến lúc này người thợ ngồi bệt xuống đất, hai chân duỗi dài (chân nọ gác lên chân kia) tay trái cầm sản phẩm gốm đặt nhẹ lên đùi, tay phải cầm hòn đá cuội nhỏ (tmố) tùy kích thước nồi mà người ta dùng hòn đá to hay nhỏ để cạ phía trong và phía ngoài nồi. Tay trái giữ và xoay nhẹ, tay phải cạ, chỉnh sửa thân, miệng đến khi nào ưng ý thì thôi. 
Sản phẩm gốm của người Ba na thường để trơn và không trang trí hoa văn. Chính vì vậy sau khi chỉnh sửa hoàn chỉnh, gốm được đem đi phơi. Nguyên tắc phơi là phải phơi ở trong bóng mát cho khô dần, nếu phơi ngoài nắng sản phẩm dễ bị nứt. Thông thường gốm được phơi từ 5 – 7 ngày sẽ có một độ cứng tương đối. Lúc này, có thể tiến hành khâu nung đốt sản phẩm.
- Quy trình nung, đốt sản phẩm.
Nung đốt sản phẩm là khâu quyết định nhất trong quy trình sản xuất gốm. Hiện nay, người Ba Na vẫn còn lưu giữ được cách nung gốm cổ xưa, nghĩa là nung ngoài trời mà hiện nay gần như thất truyền ở nhiều nơi. Với kỹ thuật đốt lộ thiên, các sản phẩm sẽ lần lượt chín tới trong vài giờ đốt.
Để cho ra đời  một mẻ gốm đẹp, chín đều phải có sự cộng hưởng của nhiều yếu tố như: thời tiết, địa điểm, nhiệt độ, nguyên liệu dùng để nung sản phẩm… Tất cả những yếu tố ấy, chỉ có sự nhạy cảm tinh tế của người thợ mới biết được. Vì là nung ngoài trời nên thời tiết đóng vai trò khá quan trọng trong toàn bộ quá trình nung .
Kon Tum là mảnh đất lắm mưa nhiều gió, nên việc nung gốm nhất thiết phải chọn ngày nắng và êm gió. Nếu vào ngày nung có gió nhiều, lượng nhiệt sẽ bị phân tán làm sống và làm gốm không chín đều.
Để chuẩn bị cho khâu nung gốm, trước đó đồng bào đã chuẩn bị một số thứ như nước Tnung để đập lên thân gốm cho có màu đen đẹp, bóng bền và chuẩn bị sẵn củi. Tnung là một loại cây thân gỗ, có hoa màu đỏ trắng, vỏ cây màu đỏ xám. Người ta tách lấy lớp vỏ, đem đập dập rồi bỏ vào nồi đất ngâm chung với nước khoảng 1 tháng rồi mới đem ra sử dụng. 

Sản phẩm sau khi nặn hoàn thành

 
Theo kinh nghiệm từ lâu đời của những người thợ, thì củi dùng để nung gốm nhất thiết phải là củi rừng. Loại củi này chắc, nhiều than và giữ nhiệt tốt. Vì quy mô sản xuất ở đây nhỏ, thủ công, mỗi lần cũng chỉ từ 4 đến 6 sản phẩm, nên chỉ cần 2 bó củi chặt dài khoảng 80cm, chẻ kích cỡ khoảng bằng cổ tay.
Gốm được nung vào buổi sáng. Thông thường người ta chọn những khoảng đất trống trước sân nhà làm địa điểm nung. Để nung gốm, đồng bào xếp 1 lớp củi ở dưới tạo thành đáy lò và nhóm lửa. Trước khi nung, gốm được hơ trên bếp lửa cho thật khô. Công đoạn này giúp cho gốm không bị vỡ khi gặp nhiệt độ cao đột ngột. Khi lửa đã cháy đều họ đưa nồi đã hơ đặt lên dàn củi đang cháy và tiếp tục xếp củi sao cho phủ kín hết các sản phẩm gốm. Theo các chuyên gia nghiên cứu về nghề gốm, nếu nhiệt độ lên trên 800O sẽ cho ra sản phẩm chín sành, dưới 800O  sản phẩm sẽ không chín và không có màu đen, nếu trên 1000O sản phẩm sẽ vỡ. Do đó với kinh nghiệm và tri thức dân gian của mình, người thợ sẽ quan sát và điều chỉnh nhiệt độ sao cho phù hợp.
Trong qúa trình nung, người ta chờ cho đến khi lửa nhỏ rồi dùng một cái que, đưa vào miệng nồi đỡ ra và lấy vỏ cây T’nung nhúng vào nước nước Tnung đã chuẩn bị sẵn rồi đập lên bề mặt gốm. Thao tác này tạo cho sản phẩm có màu đen, bóng khá đẹp. Sau khi quét nước Tnung , gốm lại được đưa vào nung tiếp.
Nghề làm gốm của người Ba na (Jơ Lâng) không những cung cấp những vật dụng cần thiết cho cuộc sống sinh hoạt thường ngày mà còn góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nơi đây. Trước kia, khi các vật dụng dùng trong sinh hoạt còn khan hiếm, việc trao đổi diễn ra khá sôi nổi trên diện rộng. Theo người già kể lại, thời ấy cả vùng Kon Tum đều tìm đến đây để trao đổi lấy đồ gốm đem về sử dụng. Hình thức là vật đổi vật. Gía một cái nồi cỡ trung bình khi trao đổi là 1 con gà hoặc 1 cái rựa; 3 cái nồi đổi một con heo 3 nắm…
Các sản phẩm gốm của người Ba Na tuy không đa dạng về chủng loại và kiểu dáng nhưng nó đóng một vai trò khá quan trọng trong đời sống vật chất cũng như tinh thần. Ngày nay, khó có thể tìm được một nghề nào mà việc sáng tạo sản phẩm không phải cần đến các dụng cụ lao động như nghề gốm ở Kon Xơ Mlũh. Từ khối đất nguyên liệu,  những bàn tay khéo léo của người thợ tạo hình , tạo dáng cho sản phẩm theo nhiều kích cỡ khác nhau. Điều đáng khâm phục là mặc dù không có các mẫu khuôn, nhưng các sản phẩm làm ra cứ tròn và đều tăm tắp. Chỉ có sự mẫn cảm tinh tế, cùng với kinh nghiệm được đúc kết từ ngàn đời mới cho ra đời những sản phẩm như thế.
Tuy nhiên, từ xưa đến nay, gốm vẫn chỉ được xem là nghề phụ. Sản phẩm làm ra chủ yếu để đáp ứng nhu cầu cho sinh hoạt hàng ngày.
Ngày nay, trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nghề gốm không còn được quan tâm đúng mức và đang dần mất đi vai trò và vị thế của nó trong đời sống cộng đồng. Tìm về cái xưa để thêm yêu cuộc sống hiện tại, tìm về nguồn cội để biết trân trọng và khâm phục khả năng lao động sáng tạo của tiền nhân là một việc làm hết sức ý nghĩa và cần thiết. Nếu không có sự gìn giữ chăm chút, những tinh túy sắc sảo đã được lưu truyền từ bao đời nay của nghề gốm ở Kon Xơ Mlũh sẽ dần mai một và thất truyền mãi mãi./.
Tác giả bài viết: Mai Văn Nhưng
Nguồn tin: Tạp chí Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Kon Tum số 79
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu Kon Tum

Thăm dò ý kiến

Bạn cần gì ở Thư viện?

Tài liệu hoàn toàn mới.

Tài liệu đa dạng, sử dụng miễn phí.

Sử dụng các dịch vụ và tiện ích miễn phí

Tất cả các ý kiến trên




Thống kê

  • Đang truy cập: 43
  • Khách viếng thăm: 4
  • Máy chủ tìm kiếm: 39
  • Hôm nay: 1605
  • Tháng hiện tại: 2649
  • Tổng lượt truy cập: 919150

Kết nối Kon Tum

Trang nhất   Giới thiệu   Tin Tức   Đăng nhập thành viên   Bạn đọc góp ý