thu vien kon tum
sự kiện

NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG NGHỀ RÈN CỦA XƠ ĐRÁ

- Người đăng bài viết: Thư Viện tỉnh
NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG NGHỀ RÈN CỦA XƠ ĐRÁ

NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG NGHỀ RÈN CỦA XƠ ĐRÁ

Trong các ngành nghề thủ công truyền thống, nghề rèn của người Xơ Đrá(1) được xem là nét nổi bậc về lịch sử, văn hóa và khoa học. Qua một số công trình khảo cứu của nhiều học giả đã nhận định rằng: "người Xơ Đrá là cư dân đứng đầu về nghề rèn tiểu công nghiệp ở toàn Việt Nam và có thể toàn Đông Nam Á"(2). Qua những phát hiện tại di chỉ khảo cổ học Lung Leng và Plei Kroong, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 18 lò luyện sắt, quanh lò còn vết tích nhiên liệu than gỗ, quặng và nhiều xỉ sắt. Cùng với đó, còn có khá nhiều đồ sắt như dụng cụ lao động, mũi tên sắt và đồ trang sức được chôn trong mộ. Những chứng cứ này đã ghi nhận sự có mặt của kỹ thuật luyện sắt ở Kon Tum đã đạt đến trình độ khá cao và có niên đại cách đây 1.500 năm đến 3000 năm(3).
Trong lịch sử, vào thập niên 60 của thế kỷ XX trở về trước, người Xơ Đrá đã khai thác quặng và sử dụng loại lò rèn khá độc đáo với kiểu lò bằng da (Tơ Niam Dup) nổi tiếng khắp vùng Tây Nguyên.
          Lò rèn bằng da mà người Xơ Đrá gọi là Tơ Niam Dup cho đến nay chưa có một công trình nào nêu rõ về lịch sử ra đời. Qua một số chuyên khảo của các nhà dân tộc học cho rằng nghề rèn của người Xơ Đrá - Xơ Đăng do học của người Lào, nhưng lại có tác giả cho là người Xơ Đrá - Xơ Đăng đã có từ trước... Ta thấy, qua kết quả khai quật ở Lung Leng và Plei Kroong, phải chăng đây là dân tộc đã sáng chế ra loại lò này cách đây 1.500 năm về trước?  
Đối chiếu các tài liệu và lời kể của những thợ rèn ở Đăk Ui, Ngok Réo cho biết: Cấu trúc của lò rèn này, gồm: Bễ tạo hơi bằng da mang (kea chiêu), 2 ống bễ gỗ (tê tê), 2 ống dẫn hơi bằng nứa (rơ vang) và 1 ống đất chịu lửa (rơ chông) dẫn ra lò nung (Klôh Tơ Niam). Lò được đắp khá đơn giản, nửa chìm, nửa nổi, cao khoảng 30cm, đường kính khoảng 40cm.
          Để có được sắt, người Xơ Đrá khai thác quặng (Jiang) tại đồi Ngok Phi, đồi Ngok Pông và Ngok Kla và ở các dòng suối nhỏ như Teă jiang, Teă phía, Teă Niam gần làng Kon Ktu, làng Wang Tó, Kon Triang... Loại quặng mà người Xơ Đrá sử dụng có hàm lượng sắt rất cao lên đến 98% nằm ở dạng cục và dạng cát là 96%(4).
          Để nung quặng thành sắt, ngoài bộ lò rèn, người Xơ Đrá dùng cây Loăng Rlinh làm than (Kcha). Loại cây này sống chủ yếu ở các dãy đồi phía đông bắc của xã Đăk Ui, khi đốt có thể cho nhiệt cao độ cao lên trên 10000C. Cách thức rèn công cụ cũng tương tự như các dân tộc khác, nhưng ngoài việc đập, sửa, mài, tôi (took, tem, kling, krâm), người Xơ Đrá còn dùng đến vẫy tê tê, sừng trâu sử dụng trong quá trình "trui" sản phẩm để có độ rắn chắc và bền hơn.
          Trong việc pha chế quặng, người Xơ Đrá còn biết kết hợp 2 loại quặng ở dạng cụt (Hmao Ktô) và quặng cát (Hmao Jiang) để tạo sản phẩm có chất lượng sắt cao, chắc bền, không vị mẽ, gãy trong khi rèn cũng như sử dụng. Dưới tác động của nhiệt độ than cháy sinh ra, quặng trong lò nung bị chảy, chúng kết dính thành cụt (liek Hdrôi). Sau đó, lấy ra đập và nung nhiều lần cho đến khi chúng liên kết và tạo thành tấm sắt hoàn chỉnh. Công việc này do 2 người thợ chuyên thổi bễ và nấu quặng đảm nhiệm. Đây là công việc được làm vào ban đêm, ban ngày dành cho những người thợ rèn chế tác công cụ. 
Xưa kia ở vùng người Xơ Đrá, mỗi làng thường có 7 đến 15 lò rèn, tùy theo số thợ của từng làng. Trong chu kỳ của năm, người Xơ Đrá thường tổ chức làm rèn vào mùa phát rẫy, làm cỏ lúa và trước mùa thu hoạch. Mỗi năm có thể sản xuất ra hàng trăm kg sắt để rèn nông cụ và vũ khí. Sản phẩm làm ra không những đáp ứng nhu cầu đời sống của bà con trong làng mà còn trao đổi với các dân tộc xung quanh và có khi đi đến những vùng xa như: Quảng Nam, Quảng Ngãi hoặc sang cả Lào, Campuchia.
          Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sản phẩm của họ đã được sử dụng và phát huy có hiệu quả trong việc tạo ra công cụ phục vụ cho công việc sản xuất lúa gạo cung cấp cho bộ đội, dân quân địa phương hoặc đào hầm, hào, làm chông thò để chống địch đi càn. Năm 1960, cán bộ kỷ thuật của Quân Khu V và Tỉnh ủy Kon Tum lập xưởng rèn tại làng Kon Rgoh và làng Kon Rlong, huy động những người thợ giỏi ở xã Đăk Ui, Ngok Reo, Đăk Kôi để sản xuất vỏ đạn và vũ khí. 
Hàng năm, vào khoảng tháng 11-12, người Xơ Đrá thường tổ chức cúng "Jiang" tại lò rèn. Theo phong tục, lễ vật cúng "Jiang" là một con gà, ghè rượu, người thợ rèn chính của làng đứng ra làm lễ. Họ lấy máu gà và rượu bôi lên chiếc đe, hòn đá mài, chiếc búa và khấn "thần Jiang mùa sắt này cầu mong những người thợ sắt làm ra nhiều mẽ sắt, không bị tai nạn khi làm rèn, cuốc được bền, rựa được sắc...". Trước và trong lễ, người Xơ Đrá còn kiêng cử một số việc như không ra khỏi làng, không làm việc ngoài đồng, trai gái không được quan hệ với nhau...
          Trong quan hệ hôn nhân gia đình, những người làm rèn giỏi được mọi người ca tụng và lấy làm tiêu chí chọn vợ gã chồng như trai thì phải biết rèn rựa sắc, săn bắn, đan gùi đẹp; gái thì phải giỏi làm rẫy, dệt lấy những tấm vải đẹp như họ thường hát:
"Em tìm những chàng trai vắng nơi uống rượu. Lại thường có mặt nơi việc chung của làng ...Đồ sắt chàng rèn, cuốc bền, rựa sắc, Dao như có mắt, rựa như có mũi..."(5.)
 
          Hiện nay, nghề rèn của người Xơ Đrá
vẫn được các thế hệ con cháu trân trọng gìn giữ và phát huy có hiệu quả trong công cuộc bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Rồi cứ mỗi khi mùa lễ hội về, những chàng trai, cô gái sơn cước hát mãi những bản tình ca về người thợ rèn trong các làn điệu dân ca "Hcheo" truyền thống.
          -----------------------------------------------------
                (1): Người Xơ Đrá còn có nhiều tên gọi khác như: Tơ Đră, Sơ Đră, Đe Đrah, Xơ Đrah, Tơ Trah, C'tră...
            (2) (4): Đặng Nghiêm Vạn và nhiều tác giả; Các dân tộc tỉnh Gia Lai-Công Tum, NXB Khoa học xã họi, Hà Nội, năm 1981.
                (3): Nguyễn Khắc Sử; Khảo cổ học tiền sử Kon Tum, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2007.
            (5): Người Xơ Đăng ở Việt Nam. Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia Hà Nội, năm 1998.
Tác giả bài viết: Bình Vương
Nguồn tin: Tạp chí Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Kon Tum số 69
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu Kon Tum

Thăm dò ý kiến

Bạn cần gì ở Thư viện?

Tài liệu hoàn toàn mới.

Tài liệu đa dạng, sử dụng miễn phí.

Sử dụng các dịch vụ và tiện ích miễn phí

Tất cả các ý kiến trên




Thống kê

  • Đang truy cập: 11
  • Hôm nay: 466
  • Tháng hiện tại: 466
  • Tổng lượt truy cập: 916967

Kết nối Kon Tum

Trang nhất   Giới thiệu   Tin Tức   Đăng nhập thành viên   Bạn đọc góp ý