thu vien kon tum
sự kiện

GÙI CỦA NGƯỜI GIẺ - TRIÊNG Ở KON TUM

- Người đăng bài viết: Thư Viện tỉnh
GÙI CỦA NGƯỜI GIẺ - TRIÊNG Ở KON TUM

GÙI CỦA NGƯỜI GIẺ - TRIÊNG Ở KON TUM

Trên vùng cực Bắc Kon Tum, nơi núi rừng dày đặc, âm u và hiểm trở thuộc huyện Đắk Glei là nơi dân tộc Giẻ - Triêng sinh sống. Đặc điểm của người Giẻ - Triêng là thích sống trong rừng rậm, quanh năm sương mù bao phủ. Vùng quần sơn Ngọc Linh ở Kon Tum hiện tại mà người Giẻ - Triêng đang sống có nhiều núi cao, dốc đứng, có nhiều sông nhỏ chảy xiết, lắm thác ghềnh. Bên cạnh đó người Giẻ - Triêng còn sống tập trung tại địa bàn xã Đắk Nông và xã đắk Dục huyện Ngọc Hồi. Trước đây người Giẻ - Triêng chủ yếu sinh sống trên địa bàn huyện đắk Glei. Tuy nhiên, những nay gần dây do điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, đường xá đi lại thuận lợi nên một bộ phận người Giẻ - Triêng đã di cư dần ra ngoài và cư trú dọc hai bên đường Hồ Chí Minh. Ngoài đa số người Giẻ - Triêng sinh sống ở Kon Tum, Quảng Nam, còn có một bộ phận người này sống ở Đông Nam nước Lào, giáp biên giới Việt - Lào.
Sinh ra và lớn lên trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, nơi bản làng được bao bọc bởi những ngọn núi hùng vĩ, những cánh rừng xanh ríu rít tiếng chim và những dòng suối trong vắt ngày đêm róc rách hát ca. Cũng có lẽ vì thế, tâm hồn của người Giẻ - Triêng luôn chất phác, mộc mạc và thật gần gũi với thiên nhiên, ngay cả trong cách thể hiện các sản phẩm đan lát của mình. Do đó, họ rất giỏi nghề đan lát đồ gia dụng bằng các vật liệu có sẵn ở địa phương như: Song mây, mây, lồ ô, nứa, sâm lũ và các loại dây rừng…
Trong sản phẩm đan lát của mình, thứ đặc biệt nhất là chiếc gùi. Gùi chỉ là tên gọi của người Kinh để nói về đồ vật được dùng làm phương tiện vận chuyển, nhưng đồng bào Giẻ - Triêng lại có nhiều tên gọi khác nhau tương ứng cho mỗi loại gùi khi đan và tùy theo mục đích sử dụng của từng loại. Gùi nhỏ dành cho trẻ em, gùi thưa đi lấy củi, gùi nước, gùi sắn; gùi có nắp với nhiều loại được dùng đựng trang phục, trang sức, đựng lúa và cõng lúa,…
Điều đó chứng tỏ sự phong phú về các loại gùi mà người Giẻ - Triêng sử dụng trong cuộc sống hang ngày. Nếu so với chiếc gùi của người Xơ Đăng, Gia Rai hay Bah Nar thì chiếc gùi của người Giẻ - Triêng lại có kiểu dáng và kỹ thuật đan cầu kỳ, phức tạp cũng không kém.
Cũng như các dân tộc bản địa khác, hình dáng chiếc gùi của người Giẻ - Triêng về cơ bản là hình trụ đứng, thon, cao, bao gồm ba bộ phận là đế gùi (pang), quai (lây) và thân gùi (ania) với các hoa văn trang trí theo dải ngang chạy vòng quanh thân.
Trong các loại gùi đó, có ba loại gùi đặc trưng và có sự khác biệt hẳn so với các dân tộc bản địa khác trên địa bàn tỉnh, đó là gùi đựng đồ (Nơm), gùi cõng hay đựng lúa (‘Kă) và gùi ba ngăn dùng đi rừng, đi rẫy (K’lek). Trong ba loại gùi nói trên, thì gùi đựng đồ (Nơm) là loại đặc trưng và khác biệt hơn cả mà các dân tộc bản địa khác không có. Vì chỉ cần nhìn vào gùi là chúng ta có thể khẳng định ngay đó là gùi của người Giẻ - triêng mà không cần đắn đo, suy nghĩ.
- Gùi đựng đồ (Nơm): Là loại gùi có nắp, đan theo khối trụ tròn, nắp khum hình chóp cụt. Gùi có dáng bầu, phần miệng loe và thân hơi thon về dưới đế. Gùi được đan ba lớp (với 2 lớp nan và 1 lớp lá). Gùi được đan chủ yếu bằng dây mây hoặc sâm lũ (là loại cây họ mây nhưng có gai và dai hơn). So với nứa và lò ô thì loại nguyên liệu này dẻo, dai và chắc hơn, khi đan cũng dễ uốn cong và không bị gãy.  
Thường sau khi lấy nguyên liệu về người ta gác lên mái nhà (bên trong) hoặc trên gian bếp để cho khô, trước khi đan thì đem ra ngâm nước khoảng 3 ngày cho mềm rồi mới vót thành nan để đan. Đây là giai đoạn công phu và mất nhiều thời gian nhất. Với người Giẻ - Triêng thì đan lát là nghề phụ nên họ thường tranh thủ lúc thời gian rãnh để vót nan và sau đó để lên gác bếp, lúc nào rãnh thì họ mới đan. Chỉ khi nào cần thiết thì họ mới tập trung thời gian cho việc đan lát.
Sau khi đan xong lớp nan thứ nhất thì người ta tiến hành đan lớp thứ hai từ dưới đế lên khoảng một phần ba thân gùi thì dừng lại và lót lớp lá (là loại lá rừng có độ mềm, dai và không bị ngấm nước) ở giữa và cắt xén bằng với lớp đan thứ nhất, sau đó tiếp tục đan cho đến khi hoàn chỉnh.
Miệng được làm bằng song mây uốn vòng tròn và cạp với thân gùi bằng những nức dây mây hết sức khéo léo và tinh tế. Nắp cũng được đan như thân gùi, những lại có kiểu cách và hình dáng rất đẹp mắt. Phần miệng nắp được bện bởi các đai dây mây sát nhau, rất đều và đẹp, tiếp đến tạo một phần thóp vào cao khoảng 5 – 7cm. Ở phần chóp hình nón cụt được bện ba vòng nội tiếp để làm cho phần chóp được chắc chắn.
Đế gùi được làm bằng loại gỗ rừng có độ xốp, nhẹ, nhưng có độ dai và không bị mối mọt, không bị nứt. Với 4 miếng (cao 8 đến 10cm; rộng từ 25 đến 30cm và dày từ 1 đến 1,5cm) ghép lại và được thắt bằng dây mây ở tư thế hơi choãi ra tạo cho gùi một thế đứng vững chắc. Dây gùi cũng được đan bằng dây mây hoặc sâm lũ rất công phu và đẹp, với chiều dài từ 2 đến 3m, rộng khoảng 2 đến 3cm. Dây gùi được luồn vào hai lỗ dưới đế gùi và vòng theo thân gùi qua đai dây mây ôm lấy thân gùi và tạo hai đầu với khoảng trống đủ để quàng lên vai mỗi khi gùi. Trên thân gùi để trơn, không có trang trí hoa văn. Toàn bộ các bộ phận được kết cấu lại với nhau bởi đế gùi, vành miệng và 4 thanh gỗ nhỏ được bố trí xung quanh thân gùi, tạo thành bộ khung nhằm kết nối các bộ phận lại với nhau tạo thành một tổng thể thống nhất của chiếc gùi.
Đây là loại gùi khác biệt hẳn so với các dân tộc bản địa khác trên địa bàn tỉnh, thường được dùng để đựng đồ ở trong nhà hoặc vận chuyển đồ khi trời mưa. Vì có lớp lá lót ở giữa nên không bị nước ngấm vào. Ở bất cứ đâu, khi nhìn vào chiếc gùi là chúng ta có thể khẳng định đây là gùi của dân tộc Giẻ - Triêng.
- Gùi cõng, đựng lúa (‘Kă): Gùi thuộc loại sản phẩm đặc sắc, với dáng thon cao, phía trên to và nhỏ dần xuống dưới đế. Thường dùng để gùi lúa trên rẫy về hoặc đựng lúa để trong nhà. Gùi cao: 91,5cm; ĐKM: 36cm; ĐKĐ: 22,6cm. 
Loại gùi này được đan chủ yếu bằng cật lồ ô. Về cách thức đan cũng không khác so với các loại gùi khác. Do đó, cũng đòi hỏi người nghệ nhân đầu tư rất nhiều thời gian vào sản phầm của họ. Từ khâu chọn nguyên liệu đến vót nan và đan thành sản phẩm. Việc đầu tiên là chọn nguyên liệu để đan. Đây thường là công việc của những người già, vì họ là những người có kinh nghiệm trong việc chọn nguyên liệu đan hay làm bất cứ một việc gì trong gia đình cũng như cộng đồng làng. Với lồ ô thì phải lấy vào đúng mùa và phải đủ độ tuổi. Thường họ lấy vào những mùa trăng rằm và có độ tuổi từ 3 đến 4 năm (vì non quá sẽ bị héo và già quá thì giòn). Sau khi lấy về chặt thành từng đoạn vừa đủ rồi tiến hành vót thành nan. Dụng cụ chủ yếu để vót nan là loại dao nhỏ (Chang Xeng). Công việc này đỏi hỏi mất nhiều thời gian và rất tỉ mỉ. Vì người ta chỉ lấy mỗi cật nên mất rất nhiều nguyên liệu và thời gian để chẻ và vót nan. Khi vót đủ số lượng nan thì để lên gác bếp sau đó mới lấy xuống đan. Trên thân (Néc) gùi phần lớn là để trơn. Người ta chỉ tạo một dải hoa văn nhỏ ở sát đề gùi và một dải hoa văn ở giữa thân gùi. Hai dải hoa văn này được đan bằng những sợi nan màu đen khít với nhau tạo điểm nhấn cho gùi. Ở gần miệng gùi được tạo một dải hoa văn lớn hơn, với các nan đan màu đen có độ thưa hơn. Các hoa văn ở đây thường có màu đen và được tạo nên bởi những nan đan đã được nhuộm sẵn. Những chiếc nan này sau khi chẻ xong sẽ được cạo sạch lớp vỏ màu xanh, sau đó hơ lên khói cây xà nu và dùng lá rau tàu bay trà đi trà lại nhiều lần để màu đen ngấm vào nan và có độ bong. Sau đó lấy dao cạo thử, nếu chưa được thì tiếp tục làm đến khi thấy được thì mới thôi. Hoa văn ở đây chủ yếu là các đường chỉ đen (Trung môt), văn hình thoi (Tan poc) và vạch chéo nhau,… Phần miệng (A Piet) gùi hơi loe, vành miệng được nẹp bằng thanh lồ ô mỏng và được thắt lại bởi các nức dây mây. Trên vành miêng người ta làm miệng gùi bằng gỗ (là loại cây leo thường mọc trong những khu rừng già, có độ dẻo, dai và không bị nứt) và được nối tiếp trên vành miệng gùi và cũng được thắt lại bằng những nức dây mây hết sức tinh tế nhưng cũng rất chắc chắn. Nắp (Láp) gùi được làm rất đơn giản nhưng rất chắc chắn. Người ta đan một tấm phên rồi cắt thành hình tròn và dùng thanh lồ ô mỏng uốn tròn và nẹp lại, rồi dùng dây mây nức xung quanh. Trên nắp cũng được trang trí họa tiết hoa văn hình thoi.
Đế (Pă) gùi thì được làm bằng loại gỗ rừng có độ xốp, nhẹ nhưng có độ dai và không bị nứt. Với 4 miếng gỗ có độ dài bằng nhau được găn vào phần dưới thân gùi ở dạng hơi choãi ra và được kết nối lại với nhau bởi 4 thanh (Troi) lồ ô hoặc gỗ nhỏ được vót nhẵn và có độ nhỏ dần từ trên xuống dưới. Đây là khung của gùi và cũng là bộ phận chính kết nối thân, đế lại với nhau tạo cho gùi có độ chắc chắn. 
Dây đeo (Pât) thường được đan bằng mây, sâm lũ hoặc lấy từ một loại dây rừng. Một đầu quai gùi được luồn xuống đế gùi và chạy vòng quanh thân lên gần miệng gùi tạo thành một vòng cung vừa đủ để có thể gùi được.
- Gùi ba ngăn (K’lek): Ðây là loại gùi 3 ngăn dành riêng cho đàn ông sử dụng khi đi rừng hay đi rẫy. Nó được đan bằng mây (Rê) hoặc sâm lũ. Người Giẻ - Triêng gọi là K’lek. Gùi có chiều cao từ 50 đến 60 cm; rộng từ 30 đến 40cm. Đây là loại gùi dẹp, được làm ba ngăn, ngăn to (Dâu) ở giữa và cao, hai ngăn nhỏ (Con) hai bên và thấp bằng 2/3 ngăn giữa. 
Các ngăn được đan liền với nhau thành một khối thống nhất nhìn rất cân đối và có độ rộng vừa đủ để ôm vào bờ vai của người khi đeo. Phía trên của quai (Te) và phần miệng áp vào lưng người ta có ốp thêm những miếng da mang (hoẵng) một mặt nhằm tạo độ bền, êm, mặt khác nâng cao giá trị thẩm mỹ cũng như giá trị sử dụng của nó. Giữa các ngăn và phía sau thân gùi có gắn các thanh gỗ hoặc tre, được vót nhỏ với độ dài bằng các ngăn và hơi to về dười đế nhằm giữ cho gùi được cứng cáp, chắc chắn và để thừa ra một đoạn làm chân gùi. Phần đế của các ngăn được làm riêng lẻ. Mỗi ngăn là một đế. Đế có hình thuyền và được đan bởi sợi dây mây hoặc sâm lũ chạy song song tạo cho đế chắc chắn và luôn có độ rộng nhất định. Loại gùi này thường được đàn ông hoặc thanh niên sử dụng để đựng đồ như: cơm, dao, ná, mũi tên, thuốc,…mỗi khi đi rẫy hoặc đi rừng. Mỗi khi bỏ đồ vào trong gùi và đeo vào lưng thì toàn bộ chiếc gùi ôm chặt lấy lưng của người đeo, nên đồ đạc không bị rơi ra ngoài, mặt khác khi đi trong rừng có thể luồn lách thoải mái mà không bị vướng.
          Trong ba loại gùi trên thì K’lek là loại gùi đan khó thứ hai sau Gùi đựng đồ (Nơm). Loại gùi này thường chỉ những ông già mới biết đan. Vì nó rất khó đan và đòi hỏi sự tỉ mỉ, công phu từ khâu vót nan đến quá trình đan. Hiện nay, đi vào các làng của người Giẻ – Triêng nói riêng và các dân tộc bản địa nói chung, chúng ta ít thấy loại gùi này nữa.
Cũng như các dân tộc khác trên địa bàn tỉnh Kon Tum, người Giẻ - triêng quan niệm rằng, chiếc gùi không chỉ là đồ đựng thuần túy mà còn là đồ trang trí thể hiện óc thẩm mỹ và bàn tay khéo léo của người đan. Do vậy, khi đan gùi người ta dành nhiều thời gian và công sức cho việc này nhằm thể hiện nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc mình.
 Mặc dù đan lát chỉ là nghề phụ, nhưng nó đã giữ một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của người Giẻ - triêng về mặt giá trị thẩm mỹ cũng như giá trị sử dụng. Điều rất dễ nhận ra là sản phẩm đan lát đã trở thành vật dụng hết sức phổ biến cho các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của đồng bào trước đây cũng như bây giờ./.
Tác giả bài viết: Mai Văn Nhưng
Nguồn tin: Tạp chí Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Kon Tum số 82
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu Kon Tum

Thăm dò ý kiến

Bạn cần gì ở Thư viện?

Tài liệu hoàn toàn mới.

Tài liệu đa dạng, sử dụng miễn phí.

Sử dụng các dịch vụ và tiện ích miễn phí

Tất cả các ý kiến trên




Thống kê

  • Đang truy cập: 12
  • Khách viếng thăm: 11
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 1622
  • Tháng hiện tại: 2666
  • Tổng lượt truy cập: 919167

Kết nối Kon Tum

Trang nhất   Giới thiệu   Tin Tức   Đăng nhập thành viên   Bạn đọc góp ý