thu vien kon tum
sự kiện

DÂN CA CỦA NGƯỜI BA NA Ở KON TUM

- Người đăng bài viết: Thư Viện tỉnh
DÂN CA CỦA NGƯỜI BA NA Ở KON TUM

DÂN CA CỦA NGƯỜI BA NA Ở KON TUM

Trong kho tàng âm nhạc dân gian các dân tộc bản địa Kon Tum, dân ca chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Mỗi dân tộc một tính cách, một chất liệu âm nhạc dân gian khác nhau, độc đáo và phong phú. Dân ca, như hơi thở của con người, như miếng cơm nướng thơm trong ống nứa trên bếp lửa hồng, bầu nước suối trong mát ngọt lành. Dân ca không chỉ quen thuộc, mà còn món ăn tinh thần dân dã gắn liền với sinh hoạt hằng ngày của các dân tộc tỉnh Kon Tum. Đã hằng sâu trong tâm thức, trong máu thịt của mỗi con người khi lớn lên, đặc biệt là khả năng ứng tác, mọi thứ đều vận vào làn điệu có sẵn, những nội dung mới nhưng rất có vần có điệu.
So với truyện cổ, ca dao, dân ca của các dân tộc bản địa Kon Tum phong phú hơn. Cũng như truyện cổ, dù chưa có nhiều công trình nghiên cứu riêng về ca dao, dân ca của các dân tộc bản địa Kon Tum, song rải rác trong các tuyển tập về ca dao, dân ca Tây Nguyên thì các dân tộc chủ yếu ở Kon Tum như: Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, Brâu, Rơ Măm đã thực sự có nhiều bài dân ca và chúng đã trở thành tiếng nói riêng của họ.  
Với người Bah Nar ở Kon Tum, đa số họ sống quần tụ trong những làng bản riêng nên vẫn lưu giữ được những bản sắc văn hoá của dân tộc. Với tâm hồn phong phú, cuộc sống lao động gắn kết cộng đồng nên kho tàng dân ca, dân vũ dân tộc Bah Nar khá đồ sộ về quy mô và phong phú về thể loại, làn điệu. Giai điệu cơ bản là giống nhau, nhưng với mỗi làn điệu khác nhau lại được diễn xuất với giọng điệu, âm hưởng khác nhau mà trở nên mượt mà, mềm mại, êm ái, tha thiết hay khoẻ khoắn, hùng tráng…Nội dung của lời hát rất phong phú và hấp dẫn, từ những hiện tượng tự nhiên: mây, mưa, trăng, gió, cỏ cây, núi đồi đến các hiện tượng lịch sử, xã hội, các câu đố, lời chào…để nói lên tâm trạng và nguyện vọng của con người, tình cảm giữa con người với nhau. Trong các dịp lễ hội của gia đình cũng như cộng đồng làng người Bah Nar còn tặng nhau những bài hát ca ngợi thành quả lao động, sự ăn ở đức độ và lời chúc an lành, may mắn…
Dân ca Ba Na ngoài giá trị văn học, âm nhạc, còn có giá trị về lịch sử xã hội và dân tộc. Đi đâu họ cũng thấy núi, ở đâu họ cũng gặp rừng, thần linh và cả con ma đều ở xung quanh họ, vừa xa vời lại vừa gần gũi. Cái thế giới bên kia và thế giới bên này là một. Họ có mê tín nhưng không cuồn tín, cuộc sống buộc họ phải luôn tỉnh táo đề phòng. Chính từ đặc điểm này đã sản sinh ra một nền dân ca Ba Na đặc sắc.
Có thể tạm chia dân ca Ba Na làm 3 thể loại: Khan hơ mon (tạm dịch là sử thi), hát ru và bài cúng tế trong các lễ hội. Hát ru của người Ba Na có những nét riêng, trước hết là kiểu cách ru của họ. Đồng bào Ba Na không có nôi, không có võng, thậm chí giường nằm cũng không vì phải sống và lao động ở môi trường luôn có thú dữ rình rập nên đứa con phải ở luôn bên mình. Nhỏ thì cõng trên lưng, lớn thì dắt theo bên cạnh, đàn ông mang rựa ná đi trước, đàn bà mang gùi theo sau. Người mẹ vừa trỉa bắp, trỉa lúa vừa ru; vừa giã gạo, lấy nước vừa ru. Họ ru không chỉ bằng lời mà bằng cả hơi ấm và sự chuyển động của thân thể theo những tiết tấu nhịp điệu của lời ru, vừa êm ái lại vừa nhẹ nhàng.
Người Ba Na có quan niệm rằng, trẻ con vốn từ trời đất về với con người, có tai nhưng chưa biết nghe, sau lễ thổi tai người mẹ có nhiệm vụ phải “thông tai” cho con bằng những bài hát ngắn, mộc mạc dễ nhớ, dễ thuộc báo cho con biết con từ đâu đến, sẽ ở với ai và phải làm gì cho dân làng thương, làng quý. Lời hát như lời nhắn nhủ tâm tình chan chứa yêu thương.
Hát ru của người Ba Na không chỉ ở người mẹ mà ở cả người bà, người chị. Trẻ con là tài sản của làng, ai cũng phải có trách nhiệm nâng niu, bảo vệ. Bằng những lời hát ru mượt mà, êm ái và đầm ấm của chị, đứa em đã dần đi vào giấc ngủ say để  cho mẹ làm việc nhà, mẹ se chỉ dệt vải, mẹ đi làm ruộng, đi hái rau,… bố đi bắt ếch, bắt cá,…về cho chị em ăn, cho gia đình ăn. Công việc ru em, trông em tưởng chừng đơn giản nhưng không mấy dễ. Chị ru em phải nhẹ nhàng, khéo léo, cho em ngủ ngon giấc, không để em khóc:
 
LUNG OH
Nẽ nhâm ơ oh mã pơmãi eng kơdih.
Thẽng thẽng ơ oh mẽ oa tanh brai wai khăn
Mẽ tanh ăn kơ ba mẽ wã pơyua kơ ũnh hnam
Thẽng thẽng eng oh eng bân đa khăn’ nao đei ao plâng.
Ơ Mẽ oh nhâm mẽ dah tơmân oh quãng quãng
Mẽ năng oh hrễ ih ngih mẽ dah iok pĩn ăn mâm.
Thẽng thẽng oh thẽng tepdah tep eng oh eng
Bơh mẽ tõ đon mẽ xở ngon oh nhân lũk.
Ơ Mẽ oh quăng quăng oh hnhăng oh băt kơ mẽ dĩ.
Thẽng thẽng – tep dah tep – oh mã pơ mãi eng kơ dih.
Dịch nghĩa:                            
RU EM
Đừng khóc em nhé em thương em cưng của chị.
Nín nín đi em mẹ đang se chỉ dệt vải.
Mẹ dệt cho chị em ta mẹ muốn có ích cho gia đình.
Nín nín đi em chúng ta có khăn mới áo mới.
Mẹ ơi em khóc mẹ hãy cho em xinh xinh bú đi.
Mẹ thấy em nhìn mẹ tưởng mẹ bồng cho em bú.
Nín nín đi em hãy ngủ đi em, em cưng.
Mẹ lo lắng mẹ buồn vì em khóc nhiều.
Mẹ ơi em xinh xinh em đã nín em cũng yêu mẹ.
Nín nín - hãy ngủ đi em, em cưng em thương của chị.
Người Ba Na sinh sống nhờ nông nghiệp, chủ yếu là trồng rẫy. Cùng với trồng trọt, từng gia đình thường có nuôi gia cầm, gia súc như trâu, , , lợn, cũng được nuôi nhưng không bị giết thịt. Hầu như mỗi làng đều có lò rèn, một số nơi biết làm đồ gốm đơn giản, phụ nữ dệt vải tự túc đồ mặc trong gia đình,.v.v… Do đó, bên cạnh những là điệu hát ru em, kho tàng dân ca của người Ba Na còn nhiều thể loại khác nhau, nội dung khá phong phú và đa dạng, như: mừng chiến thắng, đi rừng, đi rẫy, …
Đặc biệt, mỗi khi sắp đến mùa thu hoạch lúa họ lại phải thay nhau trông chim, chuột,…để chúng không phá hoại mùa màng. Cũng chính từ những việc như thế mà không biết tự khi nào, những lời nói, những động tác đuổi chim đã trở thành những lời hát mượt mà, những động tác mềm mại, uyển chuyển:
 
WEI RẼCH
Ơ rẽch ơi’h - Nẽ xa’ ba nhôn lah ơ vẽch. Ơih – Ba ôr đum brông, ‘ba kông đum dreng - Hơ moh’ bân xa , hơ moh ba xõng. Chõng đak đơng tơ chơng đak jhũ. ‘Yũ mon glỡk, ‘ yũ nhỡk rôp.
 
Dịch nghĩa:                  
ĐUỔI CHIM SẺ (GIỮ CHIM SẺ)
 
Ơi chim Sẻ ơi, đừng ăn lúa chúng tôi. Ơi chim Sẻ ơi, Lúa đồng vừa chín, lúa rẫy chín vàng. Vừa đủ cho chúng ta ăn, vừa đủ cho ta ăn cơm. Dắt nhau lội nước cạn, dắt nhau lội nước sâu. Sợ cháu đuối nước. Sợ Ma Ja bắt.
Một thể loại dân ca khác của dân tộc Ba Na thường được thấy trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất đó là hát dệt vải do nam và nữ thể hiện. Nghệ nhân Y Blưn, làng Kon Tum Kơ Pâng kể lại rằng, bài hát dệt vải này từ thời cha ông ngày xưa truyền lại, xuất phát từ câu chuyện: Vào một ngày nọ có một chàng trai đi ngang qua thấy cô dệt vải giỏi anh cất lời khen ngợi “vải dệt vải cô Jrẽnh dệt vải”. Và rồi không biết từ khi nào, nó đã trở thành bài dân ca quen thuộc của người Ba Na và được lưu truyền đến ngày nay. Với nội dung ca ngợi cô dệt vải đẹp và hơn nữa là truyền lại để cho con cháu biết giữ nghề truyền thống của mình:
TANH BRAI
Brai tanh brai duch Jrẽnh tanh brai. Paih kơ paih tanh brai kơ – paih. Klaih khăn ao hơ bẽn pơ – nal. Pen kơ – teh keh ao hơ – drông, pen kơ – teh keh ao hơ – drông.
Brai tanh brai hơ – druh Ba HNar. Xăr rơ Ngaih pơ gong đok – rõ. Tõ đon tanh khăn brai hmẽnh keh. Ngheh e rih hơ blih ‘lâng loi. Ngheh e rih hơ blih ‘lâng loi.
HNar Ba HNar hơ - druh Ba Hnar. Hơ bẽn nao iok hơ bẽn ‘nao. Hrâp ao ‘lâng bân, hrâp ao ‘lâng. Jâng hơ - yũn kiơ chêng hơ – gâr. Jâng hơ – yũn kiơ chêng hơ – gâr.
 Gơh tanh brai bỡn gơh wai khăn ăn ũnh hnam xỗ xôn loi Pơ ‘joi tơ - drong ‘lâng rõ. Trõ – lăp đon Kon  plei teh đak. Trõ – lăp đon Kon plei teh đak.
Dịch nghĩa:    
DỆT VẢI
Có sợi bông Y Jrẽnh dệt vải Bông sợi Bông. Y Jrẽnh dệt vải đây chăn đắp hạt cườm lóng lánh, đây tấm áo ông cha khi xưa, đây tấm áo cha ông năm xưa. Jrẽnh dệt vải, kéo sợi, se chỉ cho mái nhà Rông thêm vui khắp nơi rộn ràng tiếng cười Ô! Đêm nay buôn làng mở hội Ô! đêm nay buôn làng mở hội.
Vải dệt vải cô em Bah Nar Tay thật khéo kéo chỉ hình bông hoa. Áo khăn đẹp xinh bạn cười khoe áo mới. Áo khăn đẹp xinh cho buôn làng thêm tươi. Áo khăn đẹp xinh cho buôn làng thêm tươi.
Hỡi em ơi cô em Bah Bar. Váy đã dệt xong mau mau cùng múa hát. Áo đã dệt xong rộn ràng vui chân bước. Tiếng chiêng rền vang ta vui cùng hội làng. Tiếng chiêng rền vang ta vui cùng hội làng.
 
Kho tàng dân ca dân tộc Ba Na là những loại hình nghệ thuật đặc sắc và mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, nhưng hiện nay đang dần bị mai một.
Để phát huy vốn văn hoá truyền thống dân ca, dân vũ dân tộc Ba Na, đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, giáo dục thế hệ trẻ, phát triển nhân cách, …Việc tổ chức các cuộc thi hát dân ca, dân vũ trong cộng đồng làng cũng như các dân tộc khác nhau trong và ngoài tỉnh là một trong những biện pháp góp phần duy trì và bảo tồn vốn văn hóa này. Qua các cuộc thi, hội hát dân ca dân vũ này sẽ là cơ hội cho mọi người xích lại gần nhau hơn, phô diễn được những sắc thái văn hóa của từng tộc người, là nơi để các cụ già, nam nữ thể hiện được các điệu múa, giọng hát, các nghề truyền thống để mọi người thấy được giá trị văn hóa của dân tộc mình và từ đó nâng cao nhận thức về việc duy trì cũng như bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc./.
Tác giả bài viết: Mai Văn Nhưng
Nguồn tin: Tạp chí Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Kon Tum số 74
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu Kon Tum

Thăm dò ý kiến

Bạn cần gì ở Thư viện?

Tài liệu hoàn toàn mới.

Tài liệu đa dạng, sử dụng miễn phí.

Sử dụng các dịch vụ và tiện ích miễn phí

Tất cả các ý kiến trên




Thống kê

  • Đang truy cập: 7
  • Hôm nay: 477
  • Tháng hiện tại: 477
  • Tổng lượt truy cập: 916978

Kết nối Kon Tum

Trang nhất   Giới thiệu   Tin Tức   Đăng nhập thành viên   Bạn đọc góp ý